VÁN ĐÃ ĐÓNG THUYỀN
Nhà thơ Tân Quảng quê ở huyện Gia Bình, nơi có núi Thiên Thai thơ mộng soi bóng xuống dòng Lục Đầu Giang hùng vĩ, nhưng lại định cư ở huyện Lục Nam, nơi có núi Huyền Đinh huyền thoại soi bóng dòng sông Lục hiền hoà xanh mát. Nhà anh nhìn ra sông thấy thấp thoáng cánh buồm xuôi ngược cần mẫn đêm ngày. Hình ảnh dòng sông con thuyền luôn chảy dạt dào trong tâm tưởng nhà thơ. Có lẽ vì thế mà hình tượng con thuyền thường trở đi trở lại trong thơ anh với nhiều sắc thái tình cảm khác nhau một cách mộng mị mê đắm hơn hẳn những hình tượng thơ khác. Đọc thơ anh hẳn sẽ bị hình tượng con thuyền thi ca chinh phục, tâm tưởng sẽ được phiêu du trong cõi thơ trên con thuyền ấy. Loay hoay thơ viết chẳng thành Gấp con thuyền giấy chở tình quá giang (Cách nhau một tiếng gọi đò)
Ước chi có được con thuyền
Chở giùm tôi những muộn phiền lo toan Chở giùm tôi nỗi gian nan Những dang dở những trái ngang ngợp lòng Chiều về lặng lẽ bên sông Bao giờ chở được nhớ mong sang bờ. (Chiều bên sông) Trong khi nhà thơ còn phải ước có thuyền, phải gấp thuyền giấy để có thuyền thì chính anh lại để mất con thuyền nhân duyên đời mình. Tâm sự ấy được nhà thơ dồn nén trong bài thơ: EM GIỜ VÁN ĐÃ ĐÓNG THUYỀN
Em giờ ván đã đóng thuyền Ai đem hạ thuỷ nhân duyên giữa dòng Sông đời nửa đục nửa trong Thương em phận gái long đong tháng ngày
Nắng mưa mấp mé thuyền đầy Mình em dầu dãi loay hoay chống chèo Những mong quẳng được gánh nghèo Nào ngờ cực vẫn bám theo đến cùng
Thuyền giờ gả bán cho sông Em bươn chải giữa phố đông ồn ào Trưa trầy nhễ nhại tiếng rao Lần hồi ngõ chợ chân sào nổi trôi. (Rút từ tập thơ Bóng quê, Nhà xuất bản Hội nhà văn 2007) Bài thơ có chỗ dựa vững chắc từ ca dao với những hình tượng hằn sâu trong tâm trí người đọc: gái có chồng như ván đã đóng thuyền, gái theo chồng như thuyền theo lái. Từ chỗ dựa này mà sự tiếp nhận bài thơ dễ đi vào lòng hơn, tất nhiên bài thơ có tâm sự riêng, day dứt riêng. Sự sáng tạo nghệ thuật của tác giả đã thể hiện ở câu chữ ngay từ cặp lục bát đầu tiên: Ai đem hạ thuỷ nhân duyên giữa dòng. Ca dao chỉ nói đến việc ván đã đóng thuyền, ván phải theo thuyền không cách gì thay đổi được nữa. Nhà thơ đã theo mạch ấy đẩy thành tư duy thơ: thuyền phải hạ thuỷ, mà đây là việc hạ thuỷ nhân duyên đời người. tứ thơ bắt đầu hình thành từ đó. Dòng sông đời người xô đẩy con thuyền nhân duyên phận gái xô dạt bầm dập mà tình lang chỉ biết nhìn mà cám phận chứ không biết không thể dang tay chèo lái giúp được. Mà dòng sông đời người thì có bên đục bên trong, phận em hẳn đã bị rơi vào bên đục, trong khi tình lang là bên trong thì duyên phận trái chiều không đưa con thuyền em vào được. Em long đong, em loay hoay chèo lái con thuyền sắp khẳm vì đầy mưa nắng gian lao, tưởng gánh nghèo đã quẳng đi được nhưng cái cực hơn lại bám theo đeo đẳng. Vì mưu sinh gia đình bé mọn của riêng mình nên em vẫn bươn chải tháng ngày. Trưa trầy nhễ nhại tiếng rao không chỉ động vào tình lang mà còn dội mạnh mẽ với một sự cộng hưởng chát chúa trong lòng người đọc, từ đó mà thổn thức bâng khuâng trong tâm tưởng một chân sào nổi trôi lần hồi miếng ăn đâu đó. Bài thơ ba khổ mười hai câu đưa người đọc liên tục chuyển tâm trạng từ nuối tiếc đến đau xót phẫn uất tắc nghẹn rồi thương nhớ dõi theo bước chân em - người yêu từng ngày. Đó là mối tình không bao giờ tắt trong lòng những người yêu nhau trong sáng mà không nên duyên vợ chồng.
Phạm Thuận Thành Thường Vũ - An Bình - Thuận Thành - Bắc Ninh •2413.782.355 - 0168.5300.803
|