| Nông thôn bây giờ |
Viết bởi phamthanh 07:39 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
BÁO |
|
Hôm nay lần đầu tiên vào trang "Lão Khoa" đọc được bài viết có nhiều điều tâm đắc liền cóp về nhà. Bà con có thể tâm đắc cùng. NÔNG THÔN BÂY GIỜ ... Mươi năm về trước, Trần Đăng Khoa có những nhận định khiến tôi ám ảnh mãi. Đó là những câu đầu trong tiểu phẩm có tên là Nông dân: “Nông dân thời nào cũng rất khổ. Hình như họ sinh ra để khổ. Có cho sướng cũng không sướng được. Có phủ lên vai họ tấm áo bào lộng lẫy của vua thì họ cũng không thể thành được ông vua.Họ có sức chịu đựng gian khổ đến vô tận. Nhưng mất hoàn toàn thói quen để làm một người sung sướng. Thế mới khổ. Họ khổ đến mức không còn biết là mình khổ nữa. Người nông dân ta dường như không có thói quen so sánh mình với người dân ở các nước tiên tiến, cũng như người dân đô thị. Họ chỉ so mình với chính mình thời tăm tối thôi. Và thế là thấy sướng quá”. (Xem tiếp)
|
| Diễn từ nhận giải Noben 1949 |
Viết bởi phamthanh 14:01 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
BÁO |
|
Nguồn Nguoibạnduong.net Diễn từ Nobel văn chương năm 1949 (Con người không chỉ cần sống) Faulkner (1897 - 1962) là một tác gia nổi tiếng của nước Mỹ, là nhân vật tiêu biểu cho "Văn học miền Nam" của nước Mỹ. Ông đã từng tham gia thế chiến lần thứ nhất, học đại học được một năm đồng thời làm nhiều công việc lặt vặt khác. Ông có khá nhiều tác phẩm tiêu biểu. Năm 1949, Faulkner đã đạt được giải thưởng Nobel Văn học nhờ những đóng góp lớn đối với sự lôi cuốn mạnh mẽ của loại hình tiểu thuyết tại Mỹ. Đây là bài diễn thuyết của ông vào ngày 10 tháng 12 năm 1949 khi ông nhận giải thưởng Nobel tại Thụy Điển.
Tôi nghĩ rằng giải thưởng này không phải trao cho cá nhân tôi mà là trao cho tác phẩm của tôi - một sự kết tinh tâm huyết để sáng tạo của tôi, không phải vì danh lợi. Chính vì thế tôi chỉ là người được đại diện đến đây để nhận giải thưởng, đồng thời tôi muốn dành món tiền thưởng này vào việc mà lúc đầu tiên chủ nhân của giải thưởng này muốn dùng. Thực ra làm việc đó không khó, đồng thời tôi cũng muốn làm như vậy. Tôi muốn tận dụng cơ hội này để nói với những quý ông quý bà cũng đã cống hiến cả đời cho sự nghiệp sáng tác – trong số họ sẽ có những người được đứng đây nhận giải thưởng như tôi. Bi kịch của đời tôi trước kia là: mọi người đều sợ sự đau khổ về thể xác nhưng thời gian lâu dần thì sự sợ hãi đó cũng trở nên quen hơn, mà mọi người lại tập trung vào sự đau khổ về tinh thần, họ luôn nói rằng: Liệu đến bao giờ mình sẽ bị nổ tung đây? Vì điều đó mà trong các tác phẩm hiện nay hầu hết mọi người đã quên một điều rằng chỉ có những tác phẩm miêu tả được sự xung đột nội tâm của nhân loại mới có thể trở thành những tác phẩm bất hủ, chỉ có chủ đề đó mới đáng để cho chúng ta tốn nhiều tâm huyết để viết. Chính vì thế cho nên mỗi tác giả đều cần hiểu rằng, điều đáng sợ nhất trên thế giới này đó chính là sự sợ hãi; hãy quên đi cảm giác sợ hãi, hãy dành hết tình cảm của mình cho chân lý tình cảm của nhân loại chẳng hạn như tình yêu, danh dự, sự đồng tình, lòng tự trọng và tinh thần hy sinh. Nếu như trong các tác phẩm lại thiếu đi chân lý mang tính thế giới đó chắc chắn nó sẽ không thể lưu truyền được lâu, thậm chí sẽ còn bị người khác chửi mắng. Bởi vì cái mà tác giả viết không phải là tình yêu mà là sự ham muốn. Cái được gọi là thất bại không phải là chỉ một người nào đó mất đi một thứ gì đó có giá trị, thắng lợi lại không mang lại được chút hy vọng nào. Điều nguy hiểm hơn đó là không có tình thương, khóc cho những việc không đáng khóc, sự đau thương đó chỉ là một thứ tình cảm ngắn ngủi, giả vờ, chính vì thế cảm xúc đó không gợi nên được cho người đọc điều gì. Nếu như họ hiểu được chân lý đó họ mới có thể sáng tác với một tinh thần nghiêm túc được. Tôi không cho rằng nhân loại sẽ diệt vong, bởi vì bạn chỉ cần nghĩ tới một chuyện rằng loài người từ đời này sang đời khác cứ liên tục sinh sôi nảy nở, chỉ điều đó thôi cũng đủ để cho chúng ta nói rằng nhân loại là bất hủ. Nhưng tôi cảm thấy như vậy vẫn chưa đủ. Con người đâu chỉ cần có sống mà điều cần hơn đó !à phải xuất chúng, sự bất hủ của nhân loại không chỉ là họ có tiếng nói trong vạn vật mà điều quan trọng hơn là họ có tâm linh, có sự đồng cảm, hy sinh và tinh thần nhẫn nại. Trong khi đó trách nhiệm một nhà thơ một nhà văn là miêu tả điều đó, họ có quyền được giúp nhân loại làm thăng hoa thế giới tinh thần của mình, nhắc nhở nhân loại về những niềm vinh quang trong quá khứ. Chẳng hạn như sự dũng cảm, lòng danh dự, niềm hy vọng, tác phẩm của thi nhân không phải là một bản ghi chép về nhân loại mà nó là một chỗ dựa để nhân loại sinh tồn và vượt qua tất cả. Ng
|
| Bàn về cách viết nóc và câu đầu nhà |
Viết bởi phamthanh 13:57 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (1) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
BÁO |
|
BÀN VỀ CÁCH VIẾT NÓC VÀ CÂU ĐẦU NHÀ Làm nhà là một trong ba việc lớn của đời người: lấy vợ, làm nhà, cha mẹ chết. Do đó từ xưa tới nay qua kinh nghiệm bí truyền người ta luôn cẩn trọng xem tuổi làm nhà, xem ngày giờ phạt mộc, đào móng, dựng nhà, cất nóc, lên nhà mới. Thế dất, hướng nhà cũng phải xem xét kĩ lưỡng. Tất cả những điều đó đều liên quan tới sức khoẻ người ở trong nhà nên ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế, danh vọng và quan hệ gia đình. Nhiều bộ môn khoa học bí truyền ăn theo việc này. Xem hướng nhà có thầy phong thuỷ. Xem ngày giờ tuổi tác có thầy tử vi. Khai quang trấn trạch có thầy cúng. Ca dao tục ngữ đúc kết kinh nghiệm cũng nhiều: Lấy vợ xem tuổi đàn bà, làm nhà xem tuổi đàn ông; Lấy vợ hiền hoà, làm nhà hướng nam; Một năm làm nhà ba năm trả nợ; Nhà dột từ nóc... (Xem tiếp)
|
| Sợ... khách văn |
Viết bởi phamthanh 09:39 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
BÁO |
|
Sợ... khách văn Nguyễn Quang Lập Làm báo sợ nhất là cộng tác viên, nếu là báo văn lại càng sợ. Báo không có cộng tác viên thì báo toi, tất nhiên rồi, nhưng số cộng tác viên mà báo cần chỉ chiếm 10%, số này rất đàng hoàng, ít khi có thời giờ la cà tòa soạn, cần thì gọi điện hỏi chứ chẳng đến. Phần vì họ tin tưởng bài họ viết ra là được in, báo này không in thì báo khác in; phần vì họ không có thời gian la cà và cũng sợ mất thời gian của anh em biên tập. (Xem tiếp)
|
| trạng cờ Vũ Huyên |
Viết bởi phamthanh 16:09 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
BÁO |
|
TRẠNG CỜ VŨ HUYÊN Đúng như “Bình Ngô đại cáo” đã khẳng định “Tuy mỗi bên hùng cứ một phương/Song hào kiệt đời nào cũng có”, Đại Việt không chỉ có những tài năng kiệt xuất về chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hoá mà còn có cả những tài năng thể thao nữa, như nhân vật trạng cờ Vũ Huyên là một người tiêu biểu. (Xem tiếp)
|
| Lại Nguyên Ân bàn thơ Tố Hữu |
Viết bởi phamthanh 19:04 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
BÁO |
|
| | | Vài ý nghĩ nhân hội thảo về thơ Tố Hữu Lại Nguyên Ân | 1/ Kỷ niệm Tố Hữu (TH) năm nay, nhân 90 năm sinh, được tổ chức khá rùm beng: đã một buổi trình diễn thơ-nhạc tại Nhà hát Lớn hôm chủ nhật 2/10, lại buổi hội thảo tại ban Tuyên huấn TƯ hôm nay, 4/10. Làm lớn nhân năm chẵn, lại nhân lễ ngàn năm Thăng Long, rõ rồi; nhưng liệu có phải vì cái uy của thơ TH đang suy trong công chúng? Nghe đôi nhà giáo đại học cho biết, sinh viên ngữ văn không thích làm luận văn, luận án về thơ TH. Không tin thì ban Tuyên huấn cho cán bộ nhân viên làm điều tra xem? (Xem tiếp)
|
| Giãy giụa chống đặc quyền tránh vết đổ Liên Xô đây! Nguồn Việtnamnet |
Viết bởi phamthanh 11:20 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
BÁO |
|
'Sở hữu toàn dân', cơ hội béo bở cho lợi ích nhóm? Cập nhật lúc 08:48, Thứ Ba, 14/09/2010 (GMT+7) , - Theo PGS.TS Phạm Duy Nghĩa (Đại học Kinh tế TP.HCM), cái mũ sở hữu toàn dân đã tạo cơ hội cho khai thác lợi ích nhóm và tư nhân hóa tài sản quốc gia diễn ra trên diện rộng và khá nhanh. Cần xác lập sở hữu quốc gia và sở hữu của chính quyền địa phương thay cho khái niệm sở hữu toàn dân. Trao đổi bên lề Diễn đàn Đối tác pháp luật về tăng cường tiếp cận công lý do UNDP tổ chức hôm qua (13/9), ông Nghĩa nói: 20 năm cải cách ở Việt Nam đã bảo hộ tương đối tốt sở hữu tư nhân, nhất là ở các đô thị. Tuy nhiên, những vấn đề khác cần thảo luận, chẳng hạn sở hữu toàn dân với đất đai cần thảo luận từ khía cạnh việc bảo vệ quyền lợi mong manh của người nông dân trước các thế lực nhòm ngó.
| PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, khoa Luật & chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, ĐH Kinh tế TP.HCM |
Thứ hai, sở hữu công cộng bao gồm bờ biển, hầm mỏ, không khí công cộng, là tài sản quốc gia để lại nhưng hiện nay đang được khoanh vùng tư nhân hóa rất nhanh. Lĩnh vực thứ ba là sở hữu các tập đoàn nhà nước, hiện cũng đang là vấn đề. Như chúng tôi kiến nghị nhiều lần, phải có khái niệm tốt hơn khái niệm sở hữu toàn dân, chúng tôi muốn chuyển đổi khái niệm sở hữu toàn dân thành sở hữu của chính quyền, của quốc gia, chia hai cấp: chính quyền TƯ và chính quyền địa phương.
(Xem tiếp)
|
| Liên Xô thế này còn ta thế nào |
Viết bởi phamthanh 20:14 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
BÁO |
|
Từ hộp cá trích vỏ thành trứng cá Cavian lòi ra bộ mặt thật các nhà lãnh đạo đặc quyền ở Liên Xô. Họ đã vậy, còn ta thì sao? Hãy soi cái gướng tày liếp này nhé.
Sau một thời gian vất vả điều tra, vụ việc đã được làm sáng tỏ. Thì ra một số quan chức Bộ Ngư nghiệp Liên Xô đã bí mật giao dịch với một công ty để họ đóng trứng cá Cavian sản xuất tại Sochi và Astrakhan vào trong những hộp dán nhãn cá trích rồi vận chuyển ra nước ngoài. Công ty phương Tây mua với giá cá trích, sau đó bán chuyển tay. Những người tham gia từ phía Liên Xô sẽ được hưởng lợi nhuận hậu hĩnh từ khoản doanh lợi kếch xù được gửi vào tài khoản ngân hàng Thuỵ Sĩ. Hành vi buôn lậu này diễn ra trong suốt 10 năm. Kết quả điều tra cho thấy, vụ án này làm Liên Xô tổn thất hàng triệu USD, hơn 300 người dính líu vụ án. Trong đó, có những quan chức cấp cao như Thứ trưởng Ngư nghiệp, Phó Cục trưởng Sản xuất, Tiêu thụ, Quản lý ngư nghiệp cùng các cán bộ, nhân viên Bộ Ngoại thương, Bộ Công nghiệp thực phẩm, Hạm đội Thái Bình Dương, rồi nhân viên cửa hàng tại Moscow và các thành phố khác. Người chịu trách nhiệm phân phối loại sản phẩm đóng hộp này là thị trưởng thành phố Sochi - Volokov, Bí thư thứ nhất Khu ủy Krasnodar trực tiếp quản hạt Sochi là Maidunov. Ông ta là người thân tín của Brezhnev. Khi được lệnh tham gia điều tra vụ án, ông ta đã ra sức bao che cho Volokov. Sau khi báo Văn học đăng tin Volokov bị bắt, Maidunov rất lo lắng, nhiều lần đã lên Moscow cầu cứu Brezhnev. Do mức độ nghiêm trọng của vụ án, Chủ tịch KGB là Andropov đích thân báo cáo vụ việc này với Brezhnev. Trước một loạt chứng cớ rõ ràng, Brezhnev hỏi: "Theo đồng chí nên giải quyết thế nào?". Andropov đáp: Vụ này phải đưa Maidunov ra tòa. Brezhnev bảo: Làm thế không được. Bây giờ chúng ta không có người đáng tin cậy ở Krasondur, liệu có thể tạm thời thuyên chuyển Maidunov đến nơi khác được không? Sau đó Maidunov mặc dù bị cách chức nhưng lại được điều lên Moscow làm Thứ trưởng Bộ Lương thực Thực phẩm, được sống trong một căn hộ sang trọng tại Moscow. Câu chuyện đã kết thúc một cách "êm đẹp" như thế... Tầng lớp đặc quyền trong Đảng CS Liên Xô trước hết là xuất phát từ chức tước. Có người cho rằng, chức tước càng cao thì đặc quyền càng nhiều, nếu muốn làm quan hoặc thăng chức thì phải lấy lòng, hối lộ các lãnh đạo liên quan. Chức tước vì thế mà có giá. Tại một số nơi, ngay cả chức bí thư đảng ủy cũng có giá. Năm 1969, chức bí thư thứ nhất của một khu ủy Azerbaijan có giá 200 nghìn rúp, bí thư thứ hai có giá 100 nghìn rúp. Hiện tượng mua quan, bán tước cũng tồn tại ở các nước cộng hoà khác trong Liên bang với các hình thức, mức độ khác nhau. Hội nghị toàn thể tháng 2 năm 1973, TƯ Đảng Gruzia từng chỉ rõ: Trước đây, công tác tuyển chọn và sử dụng cán bộ đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc của Chủ nghĩa Lenin. Việc bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo không phải căn cứ vào năng lực công tác và phẩm chất đạo đức của họ, mà dựa vào thao túng đằng sau, dựa vào quan hệ quen thân gia đình, dựa trên nguyên tắc có trung thành với cá nhân cấp trên hay không. Để bảo vệ những lợi ích hiện có, tầng lớp đặc quyền chống lại bất cứ sự cải cách nào ảnh hưởng đến đặc quyền của mình. Bởi vậy, không thể chủ động ngăn chặn tình trạng tham nhũng đang lan tràn trong toàn Đảng, toàn xã hội. Brezhnev lạnh lùng với từ "cải tổ" rằng: Cải cái gì, cứ làm tốt công việc là được rồi. Cuối thập kỷ 70 của thế kỷ 20, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô và trợ lý của ông soạn thảo một báo cáo về cải tổ kinh tế gây nên sự bất mãn và tẩy chay của một bộ phận các tầng lớp đặc quyền quan liêu. Kết quả, trợ lý của ông bị cách chức. Tầng lớp đặc quyền đã làm tổn hại nghiêm trọng thanh danh của CNXH, tạo ra hố ngăn cách lớn trong xã hội, làm hư hỏng xã hội. Khoảng cách giữa người dân bình thường và tầng lớp đặc quyền ngày càng lớn. Trong xã hội Liên Xô, người dân bình thường tự gọi mình là "chúng ta", còn gọi những người đặc quyền là "bọn họ". Thế nhưng, khi nói đến tầng lớp đặc quyền trong Đảng CS Liên Xô, chúng ta phải nhấn mạnh mấy điểm sau đây: - Thứ nhất: Tầng lớp đặc quyền chỉ là khái niệm đặc chỉ đối với một bộ phận cực nhỏ các phần tử thoái hoá, biến chất lạm dụng chức vụ mưu lợi riêng trong đội ngũ cán bộ Đảng CS Liên Xô khi đó. Việc phương Tây gọi 600 - 700 nghìn cán bộ, đảng viên Đảng CS Liên Xô khi đó là tầng lớp đặc quyền hoàn toàn là sự tuyên truyền rắp tâm nhằm phá hoại Đảng CS Liên Xô. Nhìn chung, đại đa số cán bộ, đảng viên của Đảng CS Liên Xô khi đó đều là những người liêm khiết, chí công, hăng hái cống hiến. Họ kiên định đi theo con đường XHCN. - Thứ hai: Phải phân biệt sự chênh lệch hợp lý với đặc quyền trong lĩnh vực phân phối. Khi đó, mặc dù trong nội bộ Đảng CS Liên Xô và trong xã hội Liên Xô tồn tại tầng lớp đặc quyền và hiện tượng đặc quyền nghiêm trọng, nhưng đồng thời với nó là chủ nghĩa bình quân theo kiểu "ăn chung nồi" tồn tại nghiêm trọng trong lĩnh vực phân phối của Liên Xô. - Thứ ba: Không chỉ chú ý đến hiện tượng độc quyền tồn tại trong lĩnh vực phân phối mà phải chú ý đến hơn biểu hiện của hiện tượng này trong lĩnh vực khác như: xây dựng chính sách, bổ nhiệm cán bộ, uốn cong luật pháp để mưu lợi riêng cho bản thân và tập đoàn nhỏ đồng thời né tránh sự giám sát của kỷ luật Đảng và quy định pháp luật. Điều này còn nghiêm trọng hơn vì nó phá hoại mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng, dẫn đến sự thay đổi tính chất của Đảng. Căn bệnh này càng bộc lộ rõ hơn dưới thời Gorbachev. Tham quan một biệt thự, là nơi ở cũ của của Gorbachev trước khi ông ta lên nắm quyền, chúng ta thấy như sau: Qua cửa chính là một sảnh rộng. Tầng một có ban công bọc kính và phòng chiếu phim, chiếc bàn ăn dài 10m, phòng bếp giống như một xưởng chế biến thức ăn lớn, còn có một tủ lạnh ngầm dưới đất. Trên tầng hai, đi qua sảnh lớn là tới thẳng phòng tắm nắng, văn phòng, phòng ngủ. Mọi thứ bày biện và trang trí trong tòa biệt thự đều hết sức xa xỉ. Xét về một ý nghĩa nào đó thì cuộc sống cá nhân xa hoa tột đỉnh này còn xa mới bộc lộ được bản chất cuộc sống của tầng lớp đặc quyền. Cái gọi là "cải tổ" của Gorbachev sau khi lên nắm quyền đã trở thành chất xúc tác để tầng lớp đặc quyền chuyển biến thành giai cấp tư sản mới. Sự cải tổ rùm beng là cơ hội tuyệt vời để tầng lớp đặc quyền tha hồ mưu lợi cá nhân. Dưới thời Gorbachev, tầng lớp đặc quyền đã không còn thỏa mãn với việc theo đuổi hưởng thụ cá nhân, mà còn mong muốn chiếm hữu lâu dài mọi đặc quyền hiện có. Thậm chí còn để lại cho con cháu đời sau. Đồng thời, tầng lớp đặc quyền còn phát hiện ra rằng CNXH, lòng tin vào CNCS thường trực nơi cửa miệng và ánh hào quang đảng viên Đảng CS mà họ mang trên mình đã không còn giá trị sử dụng. Họ thấy rằng, những đặc quyền mà họ vốn có phải được thay đổi hình hài và CNTB là chế độ thích hợp nhất để hợp pháp hóa những lợi ích hiện có của họ. Đặc biệt, trong lúc Đảng CS Liên Xô và đất nước đang đứng trước nguy cơ tồn vong. Giữ vững lợi ích đặc biệt của mình và hợp pháp hoá chúng, tầng lớp đặc quyền đã không ngần ngại lột bỏ mặt nạ, công khai thúc đẩy vứt bỏ CNXH đi theo con đường của CNTB, tư hữu hoá toàn diện. Trong thời gian này, tầng lớp đặc quyền lợi dụng quyền lực đang nắm trong tay để ra sức vơ vét, làm giàu cho bản thân. Nhất là các vị quan kinh tế trực tiếp quản lý tài sản của doanh nghiệp nhà nước. Họ lợi dụng sự hỗn loạn về thương mại hoá, thị trường hoá, kinh tế tự do hoá do Gorbachev tiến hành để làm một cuộc lật bài kinh tế, trực tiếp chiếm đoạt tài sản nhà nước thành tài sản riêng. Có kẻ thực hiện các cuộc giao dịch giữa quyền - tiền để có những ưu đãi và quota xuất khẩu nguyên liệu và vũ khí, bòn rút tài sản xã hội. Có kẻ thu siêu lợi trong các cuộc giao dịch chứng khoán, hàng hóa trả chậm rồi thành lập ngân hàng và các cơ quan tài chính khác. Một bộ phận thiểu số đó, sau này, trở thành những ông trùm tài chính mới. Năm 1991, trong số hàng vạn triệu phú ở Moscow, đại bộ phận nguyên là những cán bộ làm việc trong các cơ quan Đảng, chính quyền. Kết quả điều tra tiến hàng trong tháng 6 năm đó cho thấy, trong tầng lớp cán bộ cao cấp Liên Xô có tới 76,7 % số người cho rằng nên đi theo con đường tư bản. Chính những kẻ gọi là đảng viên Đảng CS này đã làm cách mạng bằng cách "cách đi cái mạng của Đảng CS Liên Xô". Bọn họ không chỉ vơ vét cho đầy túi tham mà còn tiếp tục nắm giữ những cương vị cao, kiểm soát quyền lực của nhà nước. Nước Nga sau khi Liên Xô sụp đổ, ngoại trừ một số ít nhân vật ngự trên đỉnh ngọn kim tự tháp quyền lực, còn lại một phần cán bộ biến thành những "quý nhân" của nước Nga. Họ chiếm 75% số quan chức bên cạnh tân tổng thống; 57,1% trong số lãnh tụ những chính đảng mới và 73,4 % trong số những quan chức của chính phủ mới. Nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ David Code có một câu nói có thể gọi là "đúng tim đen": Đảng CS Liên Xô là chính đảng duy nhất làm giàu trong tang lễ của chính mình. Trước khi Đảng CS Liên Xô sụp đổ không lâu đã có một cuộc điều tra dân ý về chủ đề: "Đảng CS Liên Xô đại diện cho ai?". Kết quả là, số người cho rằng Đảng CS Liên Xô đại diện cho nhân dân Liên Xô chiếm 7%, đại diện cho công nhân chiếm 4%, đại diện cho toàn thể đảng viên chiếm 11%. Trong khi đó, có tới 85% số người được hỏi cho rằng: Đảng CS Liên Xô đại diện cho quan chức, cán bộ và nhân viên nhà nước. Sự hình thành và phát triển của tầng lớp đặc quyền trong Đảng CS Liên Xô đã trải qua một quá trình lịch sử lâu dài. Trong giai đoạn này, những kẻ tham nhũng lộ liễu hay lén lút đều tham lam chiếm đoạt tài sản nhà nước thuộc sở hữu của nhân dân. Trong khi đó, đối với tầng lớp đặc quyền, Đảng CS Liên Xô đã đi từ chỗ ít ngăn chặn đến không tấn công, rồi bao che, thậm chí dung túng, khiến cho khối u ác tính này phát triển và lây lan nhanh chóng trên chính cơ thể của mình. Khi Đảng CS Liên Xô đã bị khối u ác tính làm cho thối rữa, biến chất thì bản thân nó bị nhân dân phỉ nhổ (Còn nữa) Theo: nhandan.com.vn
|
| Những dòng sông lấp và huyền sử văn hóa Kinh Bắc |
Viết bởi phamthanh 20:40 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
BÁO |
|
NHỮNG DÒNG SÔNG LẤP VÀ HUYỀN SỬ VĂN HOÁ XỨ BẮC
Miền quê nào cũng có con sông của riêng mình. Cá nhân nào cũng có con sông trong tâm tưởng của riêng mình. Nhà thơ Tế Hanh có những vần thơ gan ruột nói hộ mỗi người: Sông mở nước ôm tôi vào lòng/Ôi con sông đã tắm mát cả đời tôi. Sông nước là nguồn sống của cư dân Việt làm lúa nước, đến mức người Việt cổ đã ví sông như những con rồng thiêng của bộ tộc Lạc. Thế nhưng vật đổi sao dời, nhiều con sông thân thương ngày nào đã bị lấp bồi nên ruộng nên làng. Tiếng lòng Tú Xương đã thảng thốt kêu lên từ trăm năm trước về con sông Vị quê mình: Sông kia rày đã nên đồng. Xứ Bắc cũng có những con sông chỉ còn trong huyền sử văn hoá như vậy.
(Xem tiếp)
|
| người giữ kỉ lục sở hữu 51 bản Kiều nôm cổ |
Viết bởi phamthanh 20:39 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (1) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
BÁO |
NGƯỜI GIỮ KỈ LỤC SỞ HỮU 51 BẢN KIỀU NÔM CỔ VÀ KỈ LỤC CHỈNH SỬA 701 CÂU KIỀU 
Truyện Kiều được dân ta đón nhận say mê bằng nhiều cách khác nhau. Không ít người không biết chữ mà thuộc Kiều đến mức đọc xuôi đọc ngược đều được. Lại còn biết vận Kiều trong mọi hoàn cảnh đời sống hằng ngày. Lương y Nguyễn Khắc Bảo, chủ cửa hàng thuốc Ông lang Chọi ở thành phố Bắc Ninh có cách mê Kiều riêng, mê đến mức thành nhà Kiều học với kỉ lục sở hữu 51 bản Kiều nôm cổ và kỉ lục chỉnh sửa 701 câu Kiều theo hướng phục hồi nguyên tác. - Vì sao ông có ý tưởng sưu tầm các bản Kiều nôm cổ? - Gia đình tôi có nghề thuốc gia truyền nhưng bản thân tôi không theo nghề thuốc mà theo học sư phạm làm nghề gõ đầu trẻ. Khi cụ thân sinh yếu tôi đang dạy học ở miền nam đành phải xin nghỉ chế độ mất sức về gần tiện trông nom cụ. Sau đó là kế nghiệp nghề thuốc gia truyền, hiệu Ông lang Chọi ở ngay Chợ Nhớn thị xã Bắc Ninh. Làm thuốc thì phải học chữ Hán Nôm. Tôi tuy là giáo viên toán nhưng thuộc Kiều từ hồi còn đi học vì cụ thân sinh cũng rất mê Kiều. Cụ đọc Kiều bằng bản in cổ, sau này phân loại tôi gọi bản của gia đình là bản Kinh Bắc. Tôi nảy ra ý tưởng học chữ bằng đọc bản cổ này. Khi đọc thì phát hiện ra có sự khác biệt giữa bản Kiều mình thuộc là bản quốc ngữ 1979 và bản nôm cổ ở nhiều chữ. Mỗi khi gặp một chữ khác biệt tôi có cảm giác như ăn cơm gặp sạn vậy. Hỏi một số cụ am tường Hán Nôm trong hội Đông y về sự khác biệt này, các cụ đem bản Kiều nôm gia đình ra so thì lại có thêm nhiều sự sai biệt nhau nữa. Ý tưởng sưu tầm bản Kiều nôm cổ ra đời. Ban đầu chỉ để tìm hiểu vấn đề sạn trong Kiều ra sao thôi. Muốn hiểu rõ sạn thì phải tìm được nguyên bản, hoặc chí ít là bản in cổ nhất. - Trong quá trình sưu tầm bản Kiều nôm cổ nhất ông có thuận lợi và khó khăn gì? - Kinh Bắc là quê ngoại Nguyễn Du, lại có ông anh rể Vũ Trinh bình phẩm Kiều ngay từ những ngày đầu nên tôi hi vọng có thể tìm được nguyên tác ở chính quê hương mình. Khi đi sưu tầm mới thấy khó khăn của công việc. Thứ nhất là thời gian quá lâu rồi, các bản Kiều cổ khò giữ được nguyên vẹn. Thứ hai là thời cải cách văn hoá nhiều thư tịch Hán Nôm bị coi là tàn dư phong kiến đã bị tiêu huỷ. Thứ ba là số người biết chữ không nhiều nên các thư tịch Hán Nôm trở thành vô dụng trong giá sách gia đình, ai nâng niu vốn cổ thì chưa huỷ, số bị huỷ chắc là lớn hơn nhiều. Tuy nhiên, sinh hoạt trong hội Đông y toàn là người am tường Hán Nôm nên các cụ còn giữ được nhiều thư tịch, trong đó có cả bản Kiều. Các cụ lương y người thì tặng cho bản nôm người thì mách chỗ còn tàng bản. Thậm chí ngay các bệnh nhân cao niên đến hiệu bốc thuốc tôi cũng hỏi thăm về các bản Kiều nôm ở các địa phương. Về sau các mối quan hệ mở rộng thì còn được bạn bè giúp đỡ nữa. - Tính đến thời điểm 2/9/2009 ông đã sưu tập được bao nhiêu bản Kiều nôm cổ? - 51 bản. Gồm 41 bản in và 10 bản chép tay khác nhau. Ba bản mới sưu được là bản chép tay Kiều Oánh Mậu do tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, phó giám đốc thư viện Viện Hán Nôm tặng đầu năm 2008; bản chép tay Liễu Văn Đường 1866 ở Diễn Châu tìm được ngày 23/12/2008; bản in Chu Mạnh Trinh C tìm thấy ở thôn Xuân La - Xuân Phương - Phú Bình - Thái Nguyên ngày 16/1/2009. Tìm được bản này là nhờ ông Nguyễn Đình Hưng, cán bộ Sở Văn hoá thể thao và du lịch Thái Nguyên giới thiệu. Gia đình cụ Dương Nghĩa Phùng, 92 tuổi còn giữ. Cụ Phùng tuổi cao nhưng còn minh mẫn. Cụ giữ lại bản này để thỉnh thoảng đọc chơi. Nay có hậu nhân quan tâm thì cụ tặng lại vì gia đình cũng không còn người biết chữ nôm nữa. Chính hững tấm lòng rộng mở của các cụ trưởng lão như cụ Phùng đây đã giúp tôi rất nhiều trong quá trình đi sưu tầm các bản Kiều nôm cổ với hi vọng tìm được bản nguyên tác của đại thi hào Nguyễn Du. - Sở hữu kỉ lục 51 bản Kiều nôm cổ ông có nhận xét gì về việc tìm ra bản gần nguyên tác nhất? - Trong khi chưa tìm thấy bản có bút tích của Nguyễn Du để xác định nguyên tác thì ta chỉ có thể dựa vào các bản cổ nhất để tìm ra bản gần nguyên tác nhất là hướng làm của tôi. Nhưng bản in trước chưa chắc đã là bản in dựa vào bản thảo cổ nhất. Bản in Liễu Văn Đường 1866 khuyết 8 chữ do bản thảo, bản in Liễu Văn Đường 1871 có 8 chữ này nhưng lại khuyết 12 chữ khác mà nhà in không bổ sung từ bản in lần trước vì trung thành với bản thảo khác, một cách làm thận trọng với nguyên tác của người xưa. Bản quốc ngữ 1979 có sự tham gia của nhiều danh sĩ đương đại, dựa trên bản Đào Duy Anh 1974 có thể coi là chuẩn mực phổ biến hiện nay được lấy làm bản đối chiếu, tôi dựa chủ yếu vào bản Liễu Văn Đường 1866 và bổ sung bản Thịnh Mĩ Đường 1879 để chỉnh sửa những chữ sai biệt, từ đó làm ra bản Kiều mới theo hướng phục nguyên. Một số chữ hai bản nôm khác nhau thì tôi đối chiếu những bản khác để đưa ra phương án chỉnh sửa hợp lí nhất. Tháng 8/2009 Nhà xuất bản Giáo dục đã in xong cuốn sách tôi làm với nhân đề Truyện Kiều - văn bản hướng tới phục nguyên, trong đó tôi đã chỉnh sửa 918 chữ trong 701 câu Kiều. Những câu chữ chỉnh sửa này tôi đã công bố rải rác trên báo. Trong tham luận tại Hội nghị quốc tế về chữ nôm năm 2004 tôi cũng đã công bố 21 chữ chỉnh sửa mang ý nghĩa chào thế kỉ 21 rồi. Nguyên tác là tiếng Việt cách nay khoảng 200 năm nên khi đọc khi nghe những chữ chỉnh sửa của tôi có thể trái tai với những chữ hiện đại đã quen thuộc với mọi người, nhưng xin bạn đọc hãy bình tâm suy ngẫm cái việc tôi làm là chữ gì của Nguyễn Du thì hãy trả lại Nguyễn Du này của tôi. Ví dụ câu 1951: Quản chi lên thác xuống ghềnh được chỉnh sửa lại thành Quản chi trên các dưới duềnh là dựa vào bản in cổ Liễu Văn Đường 1866, 1871; Thịnh Mĩ Đường và Quan Văn Đường 1879. Ngoài ra còn dựa vào điển cố văn học việc Dương Hùng tự tử từ trên gác và Khuất Nguyên tự tử sông Mịch La. Cách viết này giống như phép rút gọn trong viết hoành phi, đại tự. Một điển có thể viết thành một câu ngắn, hoặc chỉ còn vài chữ, thậm chí chỉ còn một chữ nếu chữ ấy đủ gợi ra cả điển được nhắc đến. Lên thác xuống ghềnh là thành ngữ chỉ sự gian khó chứ không phải là điển nhắc đến hai cái chết của hai nhà thơ thời cổ hợp với văn cảnh Truyện Kiều và ngôn ngữ cổ thời Nguyễn Du viết Kiều. Khi tôi mới công bố bước đầu những câu chữ chỉnh sửa theo hướng phục nguyên đã gặp sự phản biện của nhiều nhà Kiều học có uy tín nhưng tôi vẫn tin tưởng vào sự đúng đắn của mình. Và cái đúng thì luôn luôn đúng chỉ sợ người ta không nhận ra mà thôi. Trong bản Kiều mới công bố gần đây, giáo sư Nguyễn Tài Cẩn cũng đã dùng nhiều chữ theo hướng chỉnh sửa của tôi là sự khẳng định việc làm của tôi là không vô bổ, không phải viết bừa cãi bứa. - Ông đã làm được một việc động trời là chỉnh sửa theo hướng phục nguyên 918 chữ trong 701 câu Kiều, vậy ông có dự định chỉnh sửa tiếp Truyện Kiều không? - Sức người có hạn. Hành trình đến nguyên tác Truyện Kiều còn dài lắm. Tôi vẫn tiếp tục sưu tập bản Kiều nôm cổ, vẫn tiếp tục tìm nguyên tác, nhưng có đến đích hay không là chuyện khác. Hậu sinh khả uý. Có thể những người trẻ tuổi sẽ làm được việc này. Tôi mong vinh dự tìm ra nguyên tác Truyện Kiều thuộc về tuổi trẻ. - Xin cảm ơn ông.
Người thực hiện Phạm Thuận Thành Thường Vũ - An Bình - Thuận Thành - Bắc Ninh •2413.782.355 - 0168.5300.803
|
| khoảng không ca trù còn hẹp lắm |
Viết bởi phamthanh 20:35 |
Đường dẫn cố định |
góp ý (0) |
Trackbacks (0)
|
Bản in
|
BÁO |
|
KHOẢNG KHÔNG CA TRÙ CÒN HẸP LẮM Phóng sự
Thôn Thanh Tương (Thanh Khương - Thuận Thành - Bắc Ninh) hiện nay chỉ là làng quê thuần nông, nhưng người dân nơi đây luôn tự hào là đất tổ ca trù, môn nghệ thuật từng đem lại tiền bạc như một nghề kiếm ăn chính, và đã được đi vào sách sử Thanh Tương đi hát được xâu tiền dài. Theo truyền thuyết, thôn Thanh Tương nằm ở ngay cửa bắc thành Luy Lâu xưa, hiện nay vẫn còn nhiều dấu tích thành luỹ, hào nước. Ngay từ thời Hán dân làng đã có nghề ca hát phục vụ quan lại cai trị đóng ở trong thành. Năm 40 Hai Bà Trưng kéo quân về hạ thành, ca nương Biểu Phật Nương người Thanh Tương đã làm nội ứng mở cổng thành cho quân Hai Bà kéo vào như thác lũ khiến thái thú Tô Định phải hoảng hồn xé rào lên thuyền con chạy trốn. Biểu Phật Nương trở thành nữ tướng tuỳ tùng của Hai Bà. Sau khi khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, dân Thanh Tương đã lập đền thờ tưởng nhớ nữ tướng Biểu Phật Nương. Người có công truyền dạy và hồi sinh làng nghề ca trù Thanh Tương vào thời Lê là vợ chồng ca nương Nguyễn Thị Hoa, thuộc họ Nguyễn Trọng của làng. Hiện vợ chồng ca nương Nguyễn Thị Hoa được coi là tổ nghề và có tượng thờ tại dòng họ, do ông Nguyễn Trọng Năng, 65 tuổi, trông nom. Ông Năng cho biết, trước đây họ có nhà thờ tổ nghề riêng, sau bị bom Pháp tàn phá, gia đình không có khả năng làm lại nhà thờ nên tượng tổ nghề được thờ chung với ban thờ gia tiên. Hai pho tượng gỗ sơn son thếp vàng khổ nhỏ, cao chừng 20 cm, không khắc chữ nên không biết chính xác niên đại, chỉ biết đã truyền được gần 10 đời. Cụ Nguyễn Thị Tý, 86 tuổi, mẹ ông Năng vốn quê ở Văn Lâm - Hưng Yên, khi về làm vợ cụ Nghiễn cũng được dạy nghề hát, nhưng vì sinh con nhỏ nên chưa được đi hát bao giờ. Cụ cho biết, hồi đó cả nhà cùng làm nghề, vui lắm, kiếm tiền cũng khá lắm. Người làm nghề giỏi nghề còn lại cuối cùng của làng Thanh Tương là cụ Nguyễn Thị Thiệp, 82 tuổi. Cụ Thiệp kể đã được học đàn hát từ nhỏ, thuộc hết các lề lối và 36 giọng ca trù. Hồi trẻ cụ theo gia đình đi phục vụ hát cửa đình, hát đám cưới, hát khao vọng khắp vùng. Sau đó theo vợ chồng anh chị là tay đàn Nguyễn Hồng Thái và ca nương Nguyễn Thị Vóc ra Khâm Thiên mở nhà tơ. Riêng làng Thanh Tương có đến 40 ca nương và hàng trăm tay đàn tay trống kiếm ăn ở phố cô đầu này. Theo cụ, cô đầu là một cách gọi chệch của ả đầu, tức ả đào, nay gọi là ca nương. Dân gian còn gọi miệt thị là con hát. Vì ả đào trẻ đẹp xinh tươi, giọng ca ngọt ngào thường làm mê mẩn những quan viên sành điệu. Ngay gia đình cụ Thiệp cũng có người từng lấy được chồng là quan huyện quan phủ. Sau cách mạng tháng Tám ông trùm Hồng Thái mất sớm, rồi kháng chiến bùng nổ, gia đình thôi làm nghề ca hát ở Khâm Thiên về quê làm ruộng. Loạn lạc làm tan nát làng nghề. Cô đào Nguyễn Thị Thiệp đi lấy chồng. Chị dâu đi bước nữa. Không còn nơi ca hát. Mãi gần đây ca trù mới lại được quan tâm. Ca nương Nguyễn Thị Vóc và Nguyễn Thị Thiệp cùng tay đàn Nguyễn Văn Đức được ngành văn hoá mời đi hội diễn cấp tỉnh, cấp trung ương. Hoá ra tay đàn gịong hát làng nghề quả bất hư truyền, đi đấm cấp trung ương vẫn vượt trội các làng nghề tỉnh khác. Nhưng sau đó không được địa phương chú ý khôi phục làng nghề nên nghề chưa kịp truyền hết ngón tay đàn Nguyễn Văn Đức và ca nương Nguyễn Thị Vóc đã tạ thế, chỉ còn ca nương Nguyễn Thị Thiệp vẫn say hát nhưng không có tay đàn tay trống đủ bộ để hát. Anh Nguyễn Hồng Thích, cháu nội ông trùm Hồng Thái hiện đang là bí thư đảng uỷ xã Thanh Khương cũng là một người khá sành về lề lối hát ca trù. Anh cho rằng ca trù tuy đã được thế giới quan tâm nhưng khôi phục còn khó lắm. Khó trước hết là kinh phí. Không có tiền đầu tư truyền dạy nghề thì không thu hút được người theo học. Làng Thanh Tương hiện có tổ ca trù do chi hội người cao tuổi đứng ra tổ chức. Cụ Thiệp dạy nghề không công mấy năm ròng vẫn chưa ra tấm ra miếng gì. Người hát người đàn chưa đáp ứng được yêu cầu biểu diễn. Khi có yêu cầu phục vụ ở xã cũng chỉ được bồi dưỡng cân đường hộp sữa giải khát thôi. Khi có yêu cầu quay băng tư liệu hay đi hội diễn cấp trên thầy lại phải xuất tướng. Cũng may có tay đàn Nguyễn Trọng Lộ và tay trống Nguyễn Trọng Thỉnh bên làng Thanh Hoài trước có người theo nghề bên Thanh Tương còn giữ được ít nhiều lề lối đủ hợp thành bộ đi hát. Ông Trần Văn Cầu có công mở lớp học hát ca trù tại nhà thấy không được cho học viên đi hát thì tự ái, khi được hỏi ông có nguyện vọng gì để ca trù Thanh Tương phát triển chỉ trả lời độc một yêu cầu cấp trên cần tôn trọng tôi. Nếu tôn trọng ông Cầu để ca trù Thanh Tương đùng cái phát triển bề thế như thời đi hát được xâu tiền dài chắc ngành văn hoá không tiếc bằng khen và tiền của đáp ứng yêu cầu tôn trọng ông ngay. Khó thứ hai là tâm lý. Tâm lý ngại mang danh con hát, cô đầu. Chính anh trước đã không muốn cho bà nội, ca nương Nguyễn Thị Vóc đi hát hội diễn giao lưu các nơi. Anh muốn người ta quên đi quá khứ cô đầu của bà và nghề ca hát nhà tơ của gia đình. Khó thứ ba là mục đích kiếm tiền của nghề. Nếu bỏ công tập đàn tập hát mà không có đất biểu diễn thì mấy ai say mê trong khi người ta còn bao nhiêu lĩnh vực làm ra tiền của ngay. Cứ xem như thời các cụ đi hát được xâu tiền dài vẫn chỉ ở nhà cấp 4, còn thời mất nghề bây giờ thì nhà tầng mọc lên ngàn ngạt. Theo cụ Thiệp còn có cái khó nữa là chất giọng. Đặc thù ca hát là cần chất giọng. Nắm được lề lối hát nhưng chất giọng kém cũng không sử dụng được. Tuy nhiên, nếu tổ chức học hát quy mô thì vẫn chọn được nhiều người có giọng hát khá đủ phục vụ quan viên. Mặt khác, trước mắt do còn chưa có phong trào thì nên tuyển người yêu ca trù ở cả nơi khác. Số này thường có ưu điểm về chất giọng và tai nhạc khá. Ở làng phạm vi hẹp đã bỏ nghề từ lâu làm gì còn tai nhạc để tiếp thu nhanh được. Lớp học cụ truyền nghề suốt mấy năm ở nhà ông Cầu đã có ai đủ khả năng đi hát được đâu. Trong khi các học trò mới là cô Trần Thị Kim Tuyến và cháu Nguyễn Thanh Tân (15 tuổi), vốn đều đã biết hát chèo nên học hát khá nhanh, sau một thời gian ngắn đã hát được vài giọng. Mới đây ba thầy trò tham gia Liên hoan ca trù toàn quốc vào đầu tháng 10 nhân sự kiện ca trù được thế giới công nhận là giá trị di sản phi vật thể thế giới thì cả ba đều được huy chương, thầy màu vàng, trò màu bạc. Được biết cô Trần Thị Kim Tuyến vốn là con nhà nòi hát chèo ở làng Khám, từng đoạt huy chương vàng toàn quốc. Cháu Nguyễn Thanh Tân ở làng Văn Quan từng theo chị là diễn viên đoàn chèo Thái Bình đi biểu diễn nên chất chèo đã có sẵn trong người. Như vậy, ca trù Thanh Tương hiện đã có tướng, có quân đủ bộ đi hát, nhưng tướng đã ngoài bát tuần, nếu địa phương không mau tổ chức truyền dạy thì làng ca trù danh tiếng Thanh Tương sẽ mất hẳn. Nhưng truyền dạy lại vấp bao nhiêu vật cản liệu một địa phương có đủ khả năng vượt qua không. Rõ ràng khoảng không cho ca trù Thanh Tương xanh tươi trở lại còn hẹp lắm.
Phạm Thuận Thành Thường Vũ - An Bình - Thuận Thành - Bắc Ninh 02413.782.355 - 0168.5300.803
|
|
| Tự giới thiệu |

Phạm Thuận Thành
( Tên thật: Phạm Văn Thành)
Sinh ngày 23.5.1962
QUÊ: THƯỜNG VŨ, AN BÌNH, THUÂN THÀNH, BẮC NINH
Tham gia Hội:
* Hội viên Hội Văn học- Nghệ thuật Bắc Ninh
* Hội viên Hội Ngôn ngữ học Việt Nam
Liên lạc:
ĐT: 024.13.782355
D.Đ: 01685300803
mail: anbinhthanh@gmail.com
TRANG CHỦ:
http://phamthanh.vnweblogs.com
TÁC PHẨM XUẤT BẢN
1- NƯỚC MẮT MIỀN TUYẾT TRẮNG ( Tiểu thuyết)
2 - MAI GƯƠM SẮC BÚT(Tiểu thuyết)
3- CỔ TRAI XUẤT ĐẾ ( Tiểu thuyết)
4- CỎ HOANG ( Tiểu thuyết)
5- NƯỚC MẮT SÔNG TƯƠNG (Tiểu thuyết)
6- CHUYỆN TÌNH XỨ TUYẾT ( Tập truyện ngắn)
7- ĐẢO MÊ( Tập truyện ngắn)
8- ĐÊM CUỐI Ở CÔN SƠN ( Tập truyện ngắn)
9- TẮM AO ( Tập truyện ngắn)
10- SỢI TƠ HỒNG ( Tập truyện ngắn)
11- ĐẤT VÀ NGƯỜI SIÊU LOẠI( Khảo cứu phong tục)
12- LÀNG NGO ( Khảo cứu phong tục)
13- KỂ CHUYỆN QUÊ HƯƠNG NHÀ LÝ( Khảo cứu phong tục)
14-TÀI HÙNG BIỆN CỦA NGƯỜI XƯA
15- DANH NHÂN, DANH THẮNG XỨ BẮC
16- NGƯỜI KINH BẮC ĐỐI ĐÁP GIỎI
17- CHUYỆN KỂ Ở ĐỀN ĐÔ
18- HUYỀN TÍCH CHÙA BÚT THÁP
19- ĐI VỀ HAI CHIỀU THỜI GIAN
20- CẬU BÉ MỒ CÔI
21- TIẾNG CỒNG TRONG XÓ BẾP( Truyện vừa)
22- NGƯỜI TỪ GIỚI TUYẾN TRỞ VỀ ( TIỂU THUYẾT)
23- NGÀY NGHỈ CUỐI TUẦN ( NXB CAND 2010)
24- HAI BỜ SÔNG ĐUÓNG( NXBQĐND 2010)
|
| Lịch |
| « |
February 2012 |
» |
| |
|
|
1 |
2 |
3 |
4 |
| 5 |
6 |
7 |
8 |
9 |
10 |
11 |
| 12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
18 |
| 19 |
20 |
21 |
22 |
23 |
24 |
25 |
| 26 |
27 |
28 |
29 |
|
|
|
|
| tìm kiếm |
|
|
| bài gần đây... |
|
|
| Các góp ý gần đây |
- Đinh Trien Tôi đang sắp phải viết nóc cho đình làng đang sửa.
Đọc bài này tôi...
- LÊ XUÂN Anh Lê Xuân Bột đây Thuận Thành ơi. Chúc mừng em có blob để giao lưu. Hơn...
- Hoài Khánh Hải Phòng cũng có 2 người
Anh Trần Huy Tản và ngài Thanh Tuyên ... ...
- VuHoang19979 Chào các bạn thơ !
Thế mới biết thật khó về thể thơ nầy... ...
- H.KIÊN GIANG http://vn.360plus.yahoo.com/haikuviet
361.
Anh yêu đường bay cánh chim
- T.Thi Khúc7
Đêm đông
Những con lừa ngơ ngác
Máng cỏ hóa thiên...
- Ngạn Lai Trong tập thơ Lững thững xanh có 369 bài thơ, hầu hết là thơ 3 câu, có bài...
- BẠN VĂN NHỮNG BÀI THƠ CỦA VŨ HOÀNG ĐỌC RẤT THÍCH, MỘT SỐ BÀI CÓ HƠI HƯỚNG THƠ...
- VuHoang19979 Chào bạn Phạm Thuận Thành !
Từ lâu VH có làm một số bài thơ theo...
- Võ Xuân Phương Đọc Cõi Nhớ làm tôi bồi hồi
- NGV-PTT Chào nhà thơ Hoài Khánh
Cảm ơn anh đã thăm trang này và có lời chúc...
- Hoài Khánh Chúc mừng anh có bài viết giới thiệu của anh Nguyễn Anh Nông!
- Hoài Khánh Bài viết cung cấp thông tin rất thú vị, anh ạ.
- Lê Khánh Mai Đọc bài này thấy rõ thêm, Phạm Thuận Thành không chỉ là nhà tiểu...
- Ns : Nguyễn Ngọc Tiến Thật tiếc là kô nghe được anh ơi.
Thân
- vukimlien Xem nào, ai nhanh hơn???
- Mân Hi, chao anh. Nom thành tích cũng được đấy, "chạy" khéo một tí chắc sẽ...
- nguyenducthien Không ngời tên tôi lại lạc được đến trang của người Thuận Thành. Cám...
- Hoài Khánh Chào anh! Biết anh có bài bình thơ Tô Ngọc Thạch của Hải Phòng đăng trên...
- Kiên Giang Một trong những trường ca gần đây có tiếng vang.Tôi đã đọc trường ca...
- Huỳnh Kiều PTT mới đọc, cảm được 1 phần trường ca Trường Sơn. Vấn đề dặt ra...
- 123

- vovanhoaqt Xin chào anh Phạm Thuận Thành

- Huybg09 Chúc mừng bạn mới có ngôi nhà mới rất ấn tượng.
- duyphibg Chào Phạm Thuận Thành!
Truyện ngắn, thơ... của PTT, in trên Văn nghệ,...
- Pham Chi Nhan Trong BLL hiếm có người là nhà văn, nhà nghiên cứu chuyên nghiệp như anh. Em...
- Mạnh Bình Tôi là người cùng quê BN với bạn nhưng hiện đang làm việc tại Mỹ Tho....
- thanhhoang19872005 nha co con gai ga chua vay
- thanhhoang19872005 do vay cung post len a
- nguyenthaison Sao nhà văn ít lên mạng thế. Hồi này đang viết những gì. Hôm qua thấy...
|
| categories |
|
|
| lưu trữ |
|
|
| liên kết cá nhân |
- ÂM NHẠC
- BẠN BÈ
- Chung
- LÀNG VĂN - LÀNG WEB
- TỰ BẠCH
- VIẾT VỀ PHẠM THUẬN THÀNH
- WEB VĂN HỌC
|
| Trang chính |
|
|
| Xuất bản tin |
|
|
| Trạng thái của blog |
- Tổng số bài viết: 75
- Tổng số góp ý: 38
- Tổng số trackbacks: 0
- Tổng số lượt xem bài: 6.017
|
|