Sign up
  PHẠM THUẬN THÀNH
22 Oct, 2011
VỚI NGƯỜI THÁCH THỨC CHÍNH MÌNH- BÀI CỦA PHẠM THUẬN THÀNH
Viết bởi phamthanh 13:59 | Permalink Đường dẫn cố định | Comments góp ý (0) | Trackback Trackbacks (0) | Bản inBản in | TIỂU LUẬN - PHÊ BÌNH

 

alt

BÀI IN BÁO QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN- CUỐI TUẦN,4/4/2010

18 Oct, 2011
BÀI THƠ CẢM TÁC ĐƯỢC NHIỀU NGƯỜI CHUYỂN NGỮ
Viết bởi phamthanh 06:01 | Permalink Đường dẫn cố định | Comments góp ý (0) | Trackback Trackbacks (0) | Bản inBản in | TIỂU LUẬN - PHÊ BÌNH

 

Bài thơ CẢM TÁC  của Nguyễn Anh Nông được viết tháng 10/1998 tại Đồ Sơn đến nay(10/2011) bài thơ này đã được nhiều người  thích, có lời bình/dịch sang tiếng nước ngoài: Trung, Anh, pháp. Riêng tiếng Trung Quốc có đến 7 người dịch, gồm: Đỗ Đức Nậm, Điệp Luyến Hoa( Đài Loan), Lâm Chiêu Đồng, Vũ Công Hoan, Vũ Phong Tạo, Chúc Ngưỡng Tu(Trung Quốc), Nguyễn Chân.

Bài thơ Cảm tác in trong tập thơ MÂY BAY, sở VH-TT Hòa Bình xuất bản năm 2000, in lại trong tập thơ NHỮNG THÁNG NĂM Ở RỪNG, NXB QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN, 2005; trước đó mấy năm nó được nhà thơ nguyễn Trọng Tạo chọn đăng trong trang thơ tứ tuyệt báo Thơ- H.N.V.V.N

CẢM TÁC

NGUYỄN ANH NÔNG    

Hai chàng từng là địch thủ
Choảng nhau có lúc mẻ đầu
Bây giờ xanh hai nấm đất
Khói hương thi thoảng thăm nhau

 

 (Xem tiếp)

12 Apr, 2011
CẢM XÚC RỘNG DÀI NHƯ DÃY TRƯỜNG SƠN
Viết bởi phamthanh 15:47 | Permalink Đường dẫn cố định | Comments góp ý (0) | Trackback Trackbacks (0) | Bản inBản in | TIỂU LUẬN - PHÊ BÌNH

alt

 

12 Sep, 2010
KHOẢNG KHÔNG CA TRÙ CÒN HẸP LẮM
Viết bởi phamthanh 19:09 | Permalink Đường dẫn cố định | Comments góp ý (0) | Trackback Trackbacks (0) | Bản inBản in | TIỂU LUẬN - PHÊ BÌNH

KHOẢNG KHÔNG CA TRÙ CÒN HẸP LẮM



PHẠM THUẬN THÀNH

NGUỒN: VIỆT VĂN MỚI

http://newvietart.com/index544.html

14 Jul, 2010
PHẠM THUẬN THÀNH- NGƯỜI NÔNG DÂN CẦN CÙ, NHẪN NẠI TRÊN CÁNH ĐỒNG CHỮ NGHĨA
Viết bởi phamthanh 20:59 | Permalink Đường dẫn cố định | Comments góp ý (2) | Trackback Trackbacks (0) | Bản inBản in | TIỂU LUẬN - PHÊ BÌNH


 

PHẠM THUẬN THÀNH- NGƯỜI NÔNG DÂN CẦN CÙ, NHẪN NẠI TRÊN CÁNH ĐỒNG CHỮ NGHĨA


Phạm Thuận Thành là một nông dân chính hiệu. Người nông dân này từng mặc áo lính, là sĩ quan quân đội, là giáo viên Công tác đảng, công tác chính trị một trường danh tiếng của Quân đội. Chưa hết, Phạm Thuận Thành từng mấy năm (xung phong) đi Lao động xuất khẩu tại Liên Xô. Ngay từ ngày còn là hạ sĩ quan, anh đã  tập tạch viết bài in báo Quảng Ninh, báo Quân đội nhân dân. Sau này thì các bài viết của anh được in ở các báo , tạp chí lớn và điều đáng nể là sức viết anh thật dồi dào, bao quát nhiều lĩnh vực.

Hẳn là  bươn chải, "phiêu bạt" nhiều nơi, nhiều lĩnh vực, đã cho Phạm Thuận Thành vốn sống. Với niềm đam mê chữ nghĩa, Thành đã đánh đổi nhiều thứ để  tìm phút thanh thản, thăng hoa trên cánh đồng chữ nghĩa.

Chỉ cần nhìn vào danh mục tác phẩm của anh đã được xuất bản  đăng trên trang chủ của anh ( http://phamthanh.vnweblogs.com/) thì bạn và tôi sẽ có cảm nghĩ gì nhỉ, nếu không phải người này là một anh Nông dân cần cù, nhẫn nại trên cánh đồng chữ?

Trên đất nước Nga, Phạm Thuận Thành có NHẬT KÍ KA ZAN, sau anh chuyển thành tiểu thuyết NƯỚC MẮT MIỀN TUYẾT TRẮNG và tập truyện ngắn CHUYỆN TÌNH XỨ TUYẾT.

Hiện anh đã xuất bản hơn 20 tập sách và đang viết về SĨ NHIẾP, anh vừa mail cho tôi, bảo thế.

Nhớ lại, năm 1991, bạn tôi phải rời Liên Xô về nước với cái buồn nẫu ruột, tay trắng hoàn trắng tay, lúc ấy,  tôi đang là một Đại  úy, đóng quân trên biên giới Cao Bằng, khi nghe tin này, qua thư, tôi cũng buồn bã không kém gì bạn tôi, chẳng thế mà trong bài THA HƯƠNG, tôi viết tặng Phạm Thuận Thành đã nói nên đều đó:

"Một bước ngỡ tới đâu/Ngàn vạn bước chửa tới mình /Ta như kẻ tập đi với đôi chân bé bỏng//Đường đời dài rộng /Đường tình chông chênh/Phận mình lênh đênh.//Thăm thẳm trời mây/Hun hút gió /Đăm đắm bàn tay lá cỏ.//II /Miền cực lạc vinh quang đâu tá? /Bao ngựa xe gục ngã ven đường /Ta - một kẻ tha hương/Kẻ tha hương lầm lỗi/Giá...áo cơm đổi nửa cuộc đời /Nay trở về...bái vọng quê hương./Ôi, buồn dứt/Người thân ta ngoảnh mặt?/Đời tha hương ngay ở trái tim mình."

(http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=13175 )

Người nông dân thực thụ, họ thường cầy bừa, gieo vãi, gặt hái, vui buồn trên cánh đồng của mình. Bạn tôi cũng thế, chỉ khác là người nông dân này cày bừa trên nhiều cánh đồng, đôi khi đi làm thuê, cuốc mướn  tự nguyện, vui vẻ, không vụ lợi, tuy vậy "thành quả" mang lại, đã chắc gì  được nhiều người biết tới?

Xin giới thiệu với bạn đọc vài tác phẩm của bạn tôi.

                                            Hà Nội, 14 -7-2010

                            NGUYỄN ANH NÔNG



NHÀ VĂN PHẠM THUẬN THÀNH

Nhà văn Phạm Thuận Thành

QUÊ: THƯỜNG VŨ, AN BÌNH, THUÂN THÀNH, BẮC NINH
ĐT: 024.13.782.355
D.Đ: 01685300803
mail:
anbinhthanh@gmail.com
TRANG CHỦ:
http://phamthanh.vnweblogs.com/

TÁC PHẨM XUẤT BẢN
1- NƯỚC MẮT MIỀN TUYẾT TRẮNG ( Tiểu thuyết)
2 - MAI GƯƠM SẮC BÚT(Tiểu thuyết)
3- CỔ TRAI XUẤT ĐẾ ( Tiểu thuyết)
4- CỎ HOANG ( Tiểu thuyết)
5- NƯỚC MẮT SÔNG TƯƠNG (Tiểu thuyết)
6- CHUYỆN TÌNH XỨ TUYẾT ( Tập truyện ngắn)
7- ĐẢO MÊ( Tập truyện ngắn)
8- ĐÊM CUỐI Ở CÔN SƠN ( Tập truyện ngắn)
9- TẮM AO ( Tập truyện ngắn)
10- SỢI TƠ HỒNG ( Tập truyện ngắn)
11- ĐẤT VÀ NGƯỜI SIÊU LOẠI( Khảo cứu phong tục)
12- LÀNG NGO ( Khảo cứu phong tục)
13- KỂ CHUYỆN QUÊ HƯƠNG NHÀ LÝ( Khảo cứu phong tục)
14-TÀI HÙNG BIỆN CỦA NGƯỜI XƯA
15- DANH NHÂN, DANH THẮNG XỨ BẮC
16- NGƯỜI KINH BẮC ĐỐI ĐÁP GIỎI
17- CHUYỆN KỂ Ở ĐỀN ĐÔ
18- HUYỀN TÍCH CHÙA BÚT THÁP
19- ĐI VỀ HAI CHIỀU THỜI GIAN
20- CẬU BÉ MỒ CÔI
21- TIẾNG CỒNG TRONG XÓ BẾP( Truyện vừa)

22- NGƯỜI TỪ GIỚI TUYẾN TRỞ VỀ ( TIỂU THUYẾT)

23- NGÀY NGHỈ CUỐI TUẦN ( NXB CAND 2010)

24- HAI BỜ SÔNG ĐUỐNG( NXBQĐND 2010)
NGUỒN: NGƯỜI BẠN ĐƯỜNG.NET
http://www.nguoibanduong.net/index.php?nv=News&at=article&sid=4878

11 Jul, 2010
VÁN ĐÃ ĐÓNG THUYỀN
Viết bởi phamthanh 05:41 | Permalink Đường dẫn cố định | Comments góp ý (0) | Trackback Trackbacks (0) | Bản inBản in | TIỂU LUẬN - PHÊ BÌNH

 

VÁN ĐÃ ĐÓNG THUYỀN

   Nhà thơ Tân Quảng quê ở huyện Gia Bình, nơi có núi Thiên Thai thơ mộng soi bóng xuống dòng Lục Đầu Giang hùng vĩ, nhưng lại định cư ở huyện Lục Nam, nơi có núi Huyền Đinh huyền thoại soi bóng dòng sông Lục hiền hoà xanh mát. Nhà anh nhìn ra sông thấy thấp thoáng cánh buồm xuôi ngược cần mẫn đêm ngày. Hình ảnh dòng sông con thuyền luôn chảy dạt dào trong tâm tưởng nhà thơ. Có lẽ vì thế mà hình tượng con thuyền thường trở đi trở lại trong thơ anh với nhiều sắc thái tình cảm khác nhau một cách mộng mị mê đắm hơn hẳn những hình tượng thơ khác. Đọc thơ anh hẳn sẽ bị hình tượng con thuyền thi ca chinh phục, tâm tưởng sẽ được phiêu du trong cõi thơ trên con thuyền ấy.

Loay hoay thơ viết chẳng thành

Gấp con thuyền giấy chở tình quá giang

                                                         (Cách nhau một tiếng gọi đò)

 (Xem tiếp)

05 Apr, 2010
VỚI NGƯỜI THÁCH THỨC CHÍNH MÌNH(*)
Viết bởi phamthanh 10:38 | Permalink Đường dẫn cố định | Comments góp ý (1) | Trackback Trackbacks (0) | Bản inBản in | TIỂU LUẬN - PHÊ BÌNH

 
VỚI NGƯỜI THÁCH THỨC CHÍNH MÌNH(*)
Phạm Thuận Thành
 


       Là bạn đồng môn từ thời Lục quân 1, cách nay ngót ba chục năm, nên tôi theo dõi khá sát "nghiệp thơ" của Nguyễn Anh Nông, hiện đang là nhà biên kịch của Điện ảnh Quân đội nhân dân. Từ Bàn tay lá cỏ (tập 1 xuất bản năm 1993, tập 2 xuất bản năm 1995) đến tập gần đây nhất là trường ca Trường Sơn (NXB Văn học-2009), tổng cộng Nguyễn Anh Nông đã có 6 tập thơ riêng, tập sau luôn là sự vượt lên tập trước về nội dung và thi pháp. Mới đây lại được đọc tập thơ nghìn bài của anh, chủ yếu là thơ 3 câu như một thể nghiệm Việt hóa  thể thơ Haicu của Nhật. Cũng là một dấu mốc cách tân nữa của Nguyễn Anh Nông.
   Đọc một hơi nghìn bài thơ 3 câu được đánh số thứ tự răm rắp, như kiểu bạn bè lâu ngày gặp nhau thì phải " trăm phần trăm" chén thứ nhất. Đọc lại lần nữa lai lai nhâm nhi để tận hưởng cái lạ, cái hay, để thấy được và cái chưa được trong từng "món thơ" bạn mời. Và chia sẻ cái ý tự thách thức chính mình của tác giả.
   Cái được thứ nhất là sự cách tân thể thơ Haicu. Tiếng Nhật đa âm tiết, ba câu nhưng yêu cầu câu đầu và câu ba gồm 5 âm, câu hai 7 âm, chuyển sang tiếng Việt tương ứng với 5 chữ và 7 chữ: Gã nông dân rất hay/Bụng to, đầu to và miệng rộng/Nuốt chửng cả trời sao (bài 1). Nguyễn Anh Nông làm theo hướng căn cứ theo âm này vài trăm bài. Sau đó anh căn cứ vào câu có khi chỉ là một từ, vậy tiếng Việt có khi chỉ là một từ (từ đơn hoặc từ kép) và anh cũng làm theo hướng căn cứ vào từ vái trăm bài: Bơ phờ/Hoa cuối vụ/Bão tan (bài số 913). Lại có một số bài anh mở rộng số câu lên vượt ra khỏi ngưỡng ba câu, không gò bó vào hình thức nữa. Một sự cách tân nữa là mở rộng phạm vi đề tài, đưa đời sống đa dạng vào đầy ắp trong tác phẩm của mình. Ngũ trụ Haicu đều là sư, các vị làm thơ ắt là đầy chất thiền do môi trường sống, và thường gắn với thiên nhiên, phong cảnh cũng do môi trường sống khuôn ra. Vậy thể thơ Haicu đâu chỉ dành riêng cho các nhà sư và đâu phải chất thiền, chất phong cảnh là đặc điểm riêng của thể loại này, mà phải nói rằng chất thiền và chất phong cảnh là đặc điểm riêng của ngũ trụ Haicu thôi.
   Cái được thứ hai là Nguyễn Anh Nông đã vận dụng triệt để văn học dân gian vào thể thơ ngắn. Đó là chất trữ tình, chất dự báo, chất hài hước dí dỏm, chất đúc kết kinh nghiệm và cả chất đồng dao nữa. Vận dụng chứ không phải là làm theo. Bởi vì đây là làm thơ chứ không phải làm ca dao tục ngữ hay làm đồng dao.
   Cái được thứ ba cũng là yếu tố chính để Nguyễn Anh Nông khẳng định bản lĩnh nhà thơ của mình, đó là chất thơ, chất khái quát trong bài thơ dù chỉ là thơ ngắn ba câu. Yếu tố này tạo nên hiệu quả thẩm mĩ, hiệu quả nghệ thuật và sự dư ba ám ảnh người đọc. Hãy ngắm lại gã nông dân ki kĩ một chút xem. Cái gã này hay lắm, hay ở cái chí thôn Ngưu Đẩu, nuốt cả trời sao. Thế nhưng cái hình ảnh bụng to, đầu to, miệng rộng nó bất thường, nó đưa về hình ảnh của người suy dinh dưỡng, cả đời suy dinh dưỡng, đói khát, khổ sở, phải ăn toàn những thứ giời ơi để cầm hơi. Hay ở thế nói mát, nói bóng, nói ngược. Và chất nhân văn đã bộc lộ ra. Và đó chính là chất thơ khái quát về người nông dân. Nguyễn Anh Nông viết về làng quê cũng rất ấn tượng. Không phải anh chỉ viết mà còn vẽ và đặc tả: Mái đình cong vầng trăng/Cánh hạc bay ngang tầm tay với/Bì bõm chiều sương giăng (46). Cảm xúc lịch sử, ý thức dân tộc cũng sâu sắc qua ít chữ thôi, và dòng chảy lịch sử cứ chảy tràn ra khỏi trang viết mà làm ướt, làm sạch người đọc: Khuê Văn Các trang văn/Chảy lấp lánh ngàn năm lịch sử/Chảy trong hồn nhân gian (82). Một điều đáng chú ý nữa là chất hóm, chất hài lấp lánh trang thơ. Giúp người đọc cả nghìn bài vẫn thấy thú vị. Đó chính là sự tinh tế của người viết làm chủ nguồn quặng chữ: Yêu quê hương hồn nhiên/Chỉ quê mình mới đẹp mới xinh/Xứ người toàn... đồ đểu (20). Hài đấy mà vẫn đầy tính giáo dục không đưa người ta vào chủ nghĩa tự nhiên hay cục bộ địa phương.
   Nhưng cái mạnh nhất vẫn là những bài thơ viết về các góc cạnh tâm tư tình cảm con người. Nghĩ về chum vại hứng nước mưa gốc cau làng quê mà viết ra thơ: Đầy chum đầy ché/ Mấy buồn vui sóng sánh hôm mai/Đong nỗi nhớ vơi đầy năm tháng (905). Nghĩ về thời gánh vã bỏng vai việc đồng áng cũng viết ra thơ: Gánh buồn vui xốn xang/Bước năm tháng kĩu cà kĩu kịt/Rơi vãi không hề ít (926). Hai câu đầu nghiêm túc và đượm buồn, nhưng câu thứ ba chuyển ý bất ngờ làm cho bài thơ sáng lên chất hóm. Lại có lối tư duy dĩ độc trị độc trong thơ, thế nhưng càng ngẫm càng thấy hợp lí và hay độc đáo, có lẽ chỉ tư duy thơ mới có: Mang tuyết trắng nước Nga/Sưởi mùa đông Hà Nội đêm nay/Ý nghĩ ngùn ngụt cháy (201). Hà Nội đêm nay lạnh giá nhưng so với xứ tuyết trắng thì cái lạnh giá này có thấm tháp gì, bõ bèn gì. Viết về người con gái đẹp và sự đỏng đảnh nhân duyên: Trăng lưỡi liềm/Loáng thoáng em treo giấc mộng vàng/Tít mù xa mùa hứa râm ran (906). Bởi vì anh ngắm người đẹp bằng cả sự dung tục: Da diết nồng nàn/Ánh mắt em ủ mầm hi vọng/Anh khát khao độc chiếm... (907). Và khi thu phục được rồi thì: Vạm vỡ ngực trai cày/Xới tung đất đai hoang dại em/Gieo hạt mầm trăm năm (61).
   Tuy nhiên, bên cạnh những cái được vẫn còn nhiều cái cần tỉnh táo, cầu thị. Bùng nổ sáng tạo là sự thăng hoa "trời cho" đôi khi rất hiếm hoi, vẫn cần sự tĩnh lặng suy ngẫm, trau chuốt. Thơ cần thật tinh. Nếu bình tâm suy ngẫm và suy ngẫm thì chất thơ trong mỗi bài thơ hẳn sẽ lấp lánh hơn.Và nghìn bài thơ sẽ là một bữa tiệc nhiều món ngon hấp dẫn, chứ không phải một mâm cỗ "tú hụ" những món lạ nhưng...khó xơi! 

  (*) Nguồn: Bài viết này đăng báo Quân đội nhân dân cuối tuần số 744(1023) ra ngày 4-4-2010

Địa chỉ tác giả:
Phạm Thuận Thành
Thường Vũ - An Bình - Thuận Thành - Bắc Ninh
2413.782.355 -  0168.5300.803
MAIl:
anbinhthanh@gmail.com 


NGUỒN: TRANNHUONG.COM
29 Mar, 2010
NGƯỜI THÁCH THỨC CHÍNH MÌNH
Viết bởi phamthanh 18:23 | Permalink Đường dẫn cố định | Comments góp ý (0) | Trackback Trackbacks (0) | Bản inBản in | TIỂU LUẬN - PHÊ BÌNH

 

NGƯỜI THÁCH THỨC CHÍNH MÌNH

PHẠM THUẬN THÀNH



Tôi đã đọc Nghìn câu thơ tài hoa do Nguyễn Vũ Tiềm chọn, và cả cuốn Hoài nghi và tin cậy của ông nữa. Cuốn trên là bài thơ rút gọn của người, cuốn dưới là thơ hai câu của mình. Đều độc đáo cả.

Mới rồi tôi lại được đọc tập bản thảo thơ hơn nghìn bài của Nguyễn Anh Nông, chủ yếu là thơ 3 câu như một thể nghiệm Việt hoá thể thơ Haicu của Nhật. Cũng là của độc.
(XEM TIẾP)
NGUỒN:
http://newvietart.com/index428.html

19 Mar, 2010
ĐI VỀ HAI CHIỀU THỜI GIAN - CUỐN SÁCH CỦA VÙNG QUÊ "ĐẤT VĂN HỌC"
Viết bởi phamthanh 06:25 | Permalink Đường dẫn cố định | Comments góp ý (0) | Trackback Trackbacks (0) | Bản inBản in | TIỂU LUẬN - PHÊ BÌNH


  

ĐI VỀ HAI CHIỀU THỜI GIAN - CUỐN SÁCH CỦA VÙNG QUÊ "ĐẤT VĂN HỌC"




   Cuối thế kỉ 19 nhà văn hoá Đỗ Trọng Vĩ trong sách Bắc Ninh địa dư chí nhận xét: Bình Ngô là đất văn học với 2 trạng nguyên, 4 tiến sĩ và nhiều cử nhân tú tài. Bình Ngô nay là An Bình (Thuận Thành). Truyền thống đất văn học ngày nay vẫn được duy trì. Ba năm trước xã An Bình đã thành lập Câu lạc bộ Hán Nôm tập hợp những người yêu thích chữ thánh hiền để khai thác di sản Hán - Nôm của địa phương bổ sung vào phong trào xây dựng nếp sống văn hoá ở địa phương. Câu lạc bộ đã khảo sát, biên dịch văn bia Vạn đại hương hoả ở thôn Nghi Khúc và giói thiệu tục giỗ trận khá quy củ ở đây đã được duy trì gần ba trăm năm qua. Câu lạc bộ còn tham gia dịch thần phả thôn Nghi Khúc và giới thiệu truyền thuyết vực thiêng gắn với thành hoàng Lạc thị đại vương của. Ngoài ra Câu lạc bộ còn dịch gia phả, hoạt động chữ nghĩa khá phong phú ở địa phương và ở lăng Nam Giao học tổ ở Tam Á.

 (Xem tiếp)

30 Oct, 2009
NGUYỄN ĐỨC THIỆN: TRƯỜNG CA CỦA LỚP LỚP CON NGƯỜI
Viết bởi phamthanh 13:39 | Permalink Đường dẫn cố định | Comments góp ý (1) | Trackback Trackbacks (0) | Bản inBản in | TIỂU LUẬN - PHÊ BÌNH
NGUYỄN ĐỨC THIỆN:
TRƯỜNG CA CỦA LỚP LỚP CON NGƯỜI
 (XEM TIẾP)
29 Oct, 2009
CẢM XÚC RỘNG DÀI NHƯ DÃY TRƯỜNG SƠN
Viết bởi phamthanh 04:45 | Permalink Đường dẫn cố định | Comments góp ý (3) | Trackback Trackbacks (0) | Bản inBản in | TIỂU LUẬN - PHÊ BÌNH


   

CẢM XÚC RỘNG DÀI NHƯ DÃY TRƯỜNG SƠN

( Đọc trường ca Trường Sơn của Nguyễn Anh Nông, NXB Văn học năm 2009)

   Đã một thời thơ ca Việt đột khởi bằng thể loại truyện thơ qua những khúc ngâm với những thi phẩm bất hủ: Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, Kiều... Khoảng hai trăm năm sau lại có cuộc đột khởi mới để có phong trào thơ mới. Trong (1)và sau (2)cuộc kháng chiến cứu nước đã cho các nhà thơ một dòng cảm xúc mãnh liệt để có cuộc đột khởi nhỏ khi một loạt trường ca ra đời. Trường ca không còn kết cấu như kiểu truyện thơ nữa. Nó dung nạp dung lượng rộng dài quán theo đề tài chứ không bám theo nhân vật nữa. Nó nói được nhiều vấn đề hơn. Và trường ca như là một đặc sản riêng của các nhà thơ mặc áo lính.

Dường như thể loại trường ca mong có cuộc bứt phá mới. Thi sĩ Nguyễn Anh Nông, một người đang mặc áo lính đã dấn bước vào thể loại này tiếp nối các bậc đàn anh Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Trần Mạnh Hảo... Trường ca Trường Sơn đầu tay của anh đã ra mắt bạn đọc. Và với thi phẩm này anh đáng được gọi là nhà trường ca lắm. Đọc Trường Sơn mà cảm nhận được cảm xúc của anh rộng dài như dãy Trường Sơn.

   Thực vậy, Nguyễn Anh Nông luôn tự nhủ viết trường ca tức là viết thơ, vậy trước hết câu chữ phải thơ đã rồi hãy bàn đến tính tư tưởng mà câu chữ nói đến, tức là đề tài của trường ca. Hãy nhớ đến khan của người sống trên dãy Trường Sơn từ bao năm nay đã rất thơ rồi, người thời nay viết mà không vượt thì đừng viết nữa. Khan đã viết: Nhà rông dài như tiếng chiêng. Thơ không. Anh Nông tự tin viết: Rượu cần vít cong niềm vui/ Lời khan ủ men thấp thỏm. Đặc tả chiến tranh bằng một chữ tiếng: Tiếng bom tiếng mìn găm thân cây thân người nhức nhối ngày trở gió/ Tiếng suối thét gào hay tiếng anh tiếng em vùi trong cỏ. Mà đặc tả sự thanh bình cũng bằng một chữ tiếng: Tiếng trâu đi hoang hoải rừng già/ Tiếng mõ lắc nghiêng chiều ai tìm lại/ Trái tim thao thức tháng năm xa. Tháng năm xa ấy là tháng năm mở con đường Trường Sơn huyền thoại, và tác giả dắt tay người đọc cùng đi vào tháng năm xa ấy: Con đường chồng lên con đường/ Như ta chồng lên nhau những ước mong khát vọng. Cho đến ngày nay chiến tranh đã qua lâu, con đường Trường Sơn lại mang màu huyền thoại mới phát triển mọi mặt cho những người sông trên miền cao chót vót nóc nhà Đông Dương: Người con gái Tây Nguyên/ Viết lên bảng đen/ Những điều mới mẻ/ Như viết vào quyển sách đời cô/ Ngọn đuốc sáng soi vào thâm u rừng già núi thiêng/Dưới chân cô giáo trẻ/Con đường tít tắp/ Vắt qua niềm kiêu hãnh/ Những ban mai ríu rít tiếng chim chuyền.

   Dẫn ra như vậy để tin rằng Nguyễn Anh Nông viết trường ca nhưng trước hết là viết thơ. Mà cả trường ca là thơ thì cảm xúc khiếp lắm. Tôi đã thử lấy ra một đoạn làm thành bài thơ gửi đi đăng báo và được đăng thật. Đó là bài Cô gái ngày xưa, đầu đề do tôi tự đặt: Em là cô gái của ngày xưa/ Bồng bế nắng mưa/ Gánh gồng kí ức/ Cõng gió/ Dìu mây/ trái tim rạo rực/ Kéo đẩy thời gian/ lá vàng lá xanh/ Vác tình yêu/ leo/ ngược núi/ Vượt thung sâu/ Lặn lội/ bến bờ/ hạnh phúc/ Quờ tay gặp ánh trăng/ Vơ vào lòng gió và nắng/ Ôm lời ru qua tháng năm xa...

   Đã làm thơ thì phải cách tân, đổi mới. Anh viết về những cơn sốt chết người quật ngã cả đoàn quân bằng những dòng ít chữ, nếu không đọc bằng cảm giác của người hôn mê sốt rét thì không hiểu anh định viết gì. Cơn hôn mê kéo dài như nuốt chửng đời người, nhưng ý chí chiến thắng đã vực người chiến sĩ Nhúc nhắc/ Túc tắc/ Nhổm dậy/ đi/ sấp ngửa/ mắt môi hoe. Với cách kết cấu mở, anh đã đưa được đại diện của hầu hết lực lượng kháng chiến hiện diện trên cung đường Trường Sơn. Chàng trai, cô gái, em bé, người già, nhà thơ và có cả kẻ đào ngũ nữa. Và đặc biệt hơn là cả con đường mọi lực lượng kháng chiến đang đi, đã đi cũng lên tiếng: Tôi mơ giấc mơ đẹp đẽ/ Bao người nằm xuống hôm qua/ Bỗng dưng đội đất sống dậy/ Rưng rưng niềm vui chói loà.

   Lời con đường là lời chiến thắng, cũng là lời tri ân tất cả.

   Một điều đáng ngạc nhiên hơn, dù là lính nhưng Nguyễn Anh Nông không được trải qua thực tế chiến tranh để được hành quân trên đường Trường Sơn. Vậy mà cảm xúc của thơ lại chân thật và cảm động thế. Đó chính là công việc của nhà thơ mới làm được. Tôi càng tin hơn cả tác giả lẫn thi phẩm này./.

                                                              B.N, 28/10/2009

                                             Phạm Thuận Thành

                           Thường Vũ - An Bình - Thuận Thành - Bắc Ninh

•2413.782.355      -  0168.5300.803

Ghi chú:

•(1)    Trường ca đêm 19 của nhà thơ Khương Hữu Dụng ra đờI thờI kỳ kháng chiến chống Pháp

(1)Trường ca Sông Lô của Văn Cao( bằng nhạc, cũng ra đờI thờI gian này)

(1)Trường ca Chim Chơ rao của Thu Bồn ra đờI trong thờI kỳ kháng chiến chống Mỹ

(2)Các trường ca: Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm; Đường tớI thành phố của Hữu Thỉnh; Đường tớI biển của Thanh Thảo; Đất nước hình tia chớp, Mặt trờI trong long đất của Trần Mạnh Hảo.... và nhiều trường ca khác được ra đờI kế tiếp, sau giảI phóng miền Nam...

  

15 Oct, 2009
ván đã đóng thuyền
Viết bởi phamthanh 20:30 | Permalink Đường dẫn cố định | Comments góp ý (0) | Trackback Trackbacks (0) | Bản inBản in | TIỂU LUẬN - PHÊ BÌNH
 

VÁN ĐÃ ĐÓNG THUYỀN



   Nhà thơ Tân Quảng quê ở huyện Gia Bình, nơi có núi Thiên Thai thơ mộng soi bóng xuống dòng Lục Đầu Giang hùng vĩ, nhưng lại định cư ở huyện Lục Nam, nơi có núi Huyền Đinh huyền thoại soi bóng dòng sông Lục hiền hoà xanh mát. Nhà anh nhìn ra sông thấy thấp thoáng cánh buồm xuôi ngược cần mẫn đêm ngày. Hình ảnh dòng sông con thuyền luôn chảy dạt dào trong tâm tưởng nhà thơ. Có lẽ vì thế mà hình tượng con thuyền thường trở đi trở lại trong thơ anh với nhiều sắc thái tình cảm khác nhau một cách mộng mị mê đắm hơn hẳn những hình tượng thơ khác. Đọc thơ anh hẳn sẽ bị hình tượng con thuyền thi ca chinh phục, tâm tưởng sẽ được phiêu du trong cõi thơ trên con thuyền ấy.

Loay hoay thơ viết chẳng thành

Gấp con thuyền giấy chở tình quá giang

                                                         (Cách nhau một tiếng gọi đò)

Ước chi có được con thuyền

Chở giùm tôi những muộn phiền lo toan

Chở giùm tôi nỗi gian nan

Những dang dở những trái ngang ngợp lòng

Chiều về lặng lẽ bên sông

Bao giờ chở được nhớ mong sang bờ.

                                                                        (Chiều bên sông)

   Trong khi nhà thơ còn phải ước có thuyền, phải gấp thuyền giấy để có thuyền thì chính anh lại để mất con thuyền nhân duyên đời mình. Tâm sự ấy được nhà thơ dồn nén trong bài thơ:

                                    

EM GIỜ VÁN ĐÃ ĐÓNG THUYỀN

Em giờ ván đã đóng thuyền

Ai đem hạ thuỷ nhân duyên giữa dòng

Sông đời nửa đục nửa trong

Thương em phận gái long đong tháng ngày

Nắng mưa mấp mé thuyền đầy

Mình em dầu dãi loay hoay chống chèo

Những mong quẳng được gánh nghèo

Nào ngờ cực vẫn bám theo đến cùng

Thuyền giờ gả bán cho sông

Em bươn chải giữa phố đông ồn ào

Trưa trầy nhễ nhại tiếng rao

Lần hồi ngõ chợ chân sào nổi trôi.

                                 (Rút từ tập thơ Bóng quê, Nhà xuất bản Hội nhà văn 2007)

   Bài thơ có chỗ dựa vững chắc từ ca dao với những hình tượng hằn sâu trong tâm trí người đọc: gái có chồng như ván đã đóng thuyền, gái theo chồng như thuyền theo lái. Từ chỗ dựa này mà sự tiếp nhận bài thơ dễ đi vào lòng hơn, tất nhiên bài thơ có tâm sự riêng, day dứt riêng. Sự sáng tạo nghệ thuật của tác giả đã thể hiện ở câu chữ ngay từ cặp lục bát đầu tiên: Ai đem hạ thuỷ nhân duyên giữa dòng. Ca dao chỉ nói đến việc ván đã đóng thuyền, ván phải theo thuyền không cách gì thay đổi được nữa. Nhà thơ đã theo mạch ấy đẩy thành tư duy thơ: thuyền phải hạ thuỷ, mà đây là việc hạ thuỷ nhân duyên đời người. tứ thơ bắt đầu hình thành từ đó. Dòng sông đời người xô đẩy con thuyền nhân duyên phận gái xô dạt bầm dập mà tình lang chỉ biết nhìn mà cám phận chứ không biết không thể dang tay chèo lái giúp được. Mà dòng sông đời người thì có bên đục bên trong, phận em hẳn đã bị rơi vào bên đục, trong khi tình lang là bên trong thì duyên phận trái chiều không đưa con thuyền em vào được. Em long đong, em loay hoay chèo lái con thuyền sắp khẳm vì đầy mưa nắng gian lao, tưởng gánh nghèo đã quẳng đi được nhưng cái cực hơn lại bám theo đeo đẳng. Vì mưu sinh gia đình bé mọn của riêng mình nên em vẫn bươn chải tháng ngày. Trưa trầy nhễ nhại tiếng rao không chỉ động vào tình lang mà còn dội mạnh mẽ với một sự cộng hưởng chát chúa trong lòng người đọc, từ đó mà thổn thức bâng khuâng trong tâm tưởng một chân sào nổi trôi lần hồi miếng ăn đâu đó. Bài thơ ba khổ mười hai câu đưa người đọc liên tục chuyển tâm trạng từ nuối tiếc đến đau xót phẫn uất tắc nghẹn rồi thương nhớ dõi theo bước chân em - người yêu từng ngày. Đó là mối tình không bao giờ tắt trong lòng những người yêu nhau trong sáng mà không nên duyên vợ chồng.

 

                                                                      Phạm Thuận Thành

                                            Thường Vũ - An Bình - Thuận Thành - Bắc Ninh

                                                              02413.782.355  -  0168.5300.803

 

28 May, 2008
PHÊ BÌNH: TRỊNH VĂN- MỘT CUỘC SỐNG HỒN NHIÊN
Viết bởi phamthanh 09:36 | Permalink Đường dẫn cố định | Comments góp ý (0) | Trackback Trackbacks (0) | Bản inBản in | TIỂU LUẬN - PHÊ BÌNH


                  TRỊNH VĂN - MỘT CUỘC SỐNG HỒN NHIÊN 

 
    Trịnh Văn sinh năm Nhâm Dần 1962. Một con hổ lầm lụi. Tôi biết Trịnh Văn qua thơ của hắn. Một cái gì gân guốc, rắn rỏi trong thơ với những hình tượng độc đáo, khác lạ: “Trái đất - chiếc tổ khổng lồ mang dáng chữ O; Sữa của biển mặn mòi thanh khiết; Chạm môi vào nhân loại nhận ra ngay…” Hóa ra Trịnh Văn người xã Mão Điền, ngay cạnh xã tôi. Làng Thị Mão quê trồng rau. Hôm tôi đến chơi, Trịnh Văn đang gò lưng gánh nước từ sông leo dốc lên bãi tưới rau. Cái hình hài nhỏ thó như vón lại thêm vì gánh nước nặng. Hắn nói bằng cái giọng phều phào thở:- Ông xem, đây đâu phải là leo dốc, mà mỗi bước đi là một bước trên cung bậc nhọc nhằn đấy chứ.    Chơi lâu mới biết Trịnh Văn là người sống hồn nhiên, hồn nhiên như một đứa trẻ nhỏ. Nhà tôi làm hàng mã, mấy chị hàng xóm thường mang đồ nghề sang làm cho vui. Thấy hắn đến chơi mấy chị nạ dòng hay trêu hắn. Trước hết là cái xe đạp hắn đi. Bánh trước lốp đã rạn nứt, lại không có tý hơi nào. Một chị giả vờ kêu lên:- Ối chao, xe không hơi mà anh Văn đi được à?    Hắn cười nửa miệng, nói như người móm vẻ bất cần:- Xe đi nhẹ lắm, nó còn cõng mình được mà. - Hình như xe gác bếp, đầy bồ hóng mạng nhện kìa?- Thì thế, không đi thì gác, đi đến lại hạ xuống.     Một chị khác tấn công vào bộ y phục. Cái áo lót nhờ nhờ màu phù sa sông Đuống:    - Đi chơi nhà bạn phải mặc áo dài vào chứ, có phải đi thi hoa hậu đâu mà mặc áo lót thế?Hắn vẫn cười nửa miệng đáp:- Đáng gí, cởi trần còn được nữa là.    Thấy thằng con tôi lên ba cầm sách đọc ê a, hắn tròn xoe mắt khen:- Bé thế mà cũng biết đọc cơ à!    Lúc Trịnh Văn ra về, mấy chị hỏi tôi:    - Lão ấy mà cũng là nhà thơ à?- Chứ sao. Thơ hay là đằng khác. Ấy, người khác thường thì tư duy cũng khác thường, thế thơ mới hay được. Mà đã là nhà thơ thì trước hết cần thơ hay, chứ ăn mặc có quan trọng gì đâu.    - Tài nhỉ.    Giữa năm 2002, Trịnh Văn in tập thơ “Trước lăng Kinh Dương Vương”, tôi trở thành “đệ tử” thồ hắn đi bán thơ.    Trịnh Văn khoe có hai thằng bạn chí thân ở Đình Bảng, hẹn nếu in thơ sẽ mua một triệu đồng một cuốn. Tôi lại thồ hắn đi Đình Bảng. Chuyện bạn bè yêu nhau tài trợ in sách là thường. Đến nơi, ông bạn chủ xưởng bia đãi vại bia cây nhà lá vườn. Trịnh Văn lấy ra một tập thơ trịnh trọng đề tặng. Anh bạn trân trọng nhận sách và cảm ơn. Hai người hỏi thăm nhau, tôi nghe chẳng ăn nhặp gì vì thấy mỗi người đã ở hai thái cực khác nhau. Chờ mãi không thấy chủ nhà thò tiền theo ước hẹn, tôi giục khéo hắn về kẻo muộn. Trịnh Văn nhẩn nha uống hết cốc bia rồi cáo từ. Lại nhẩn nha rút lui. Vẫn không thấy chủ nhà thò tiền. Ra khỏi ngõ, tôi hỏi đường đến nhà người bạn kia thì hắn gạt đi:- Bạn làm ăn chỉ chơi được lúc còn lợi dụng nhau thôi. Về ông ạ.    Trịnh Văn sống hồn nhiên đến ngây thơ trước cuộc đời để dồn hết tâm sức cho thơ. Con đẻ anh cũng đặt tên là Trân và Thơ, ý nói thơ của anh là thứ thơ thật. Và anh đã thành công ít nhiều. Hình tượng thơ vừa độc đáo vừa có sức khái quát, lại thể hiện bằng ngôn ngữ sống động mà có người gọi đó là “thần cú”, là “thơ thi sĩ”.  
 
Đây là một tâm trạng:
  
 
Rượu này uống với trầm ngâm
    Đủ vui một phút đủ trăm năm buồn”                                           

(Rượu làng Vân).
  
 
Chẳng biết Trịnh Văn có hay rượu không, nhưng tôi thì biết chắc một cuốn thơ ngang giá một cốc bia ở nhà ông bạn chí cốt. Lại có cô hàng rượu chịu bỏ ra một lít rượu đổi một cuốn thơ về đọc. Tôi nghiệm ra rằng: ở địa hạt tinh thần, thơ có sức mạnh nhường bao; còn địa hạt vật chất thì thơ rẻ như… rượu.
    Còn đây là một trải nghiệm:  
 
Anh trả giá bao nhiêu phiền muộn
    Để có nỗi buồn thi thoảng trong thơ”.                                           
 
(Giải thích).
  
 
Viết về nỗi nhọc nhằn của người lao động:
  
 
Người đàn bà đốt đèn đi hái rau đêm
    Người hái cụt cả đời mình trên cánh đồng rau”.                                            
(Bão khan)
  
 
Trịnh Văn nhìn thấu gan ruột làng quê lam lũ:
 
  
Làng như cái lỗ lươn
    Tôi rũ áo vén sương ra đi tôi lại khóc quay về                                            
(Làng).
   
Trịnh Văn có một bút lực ghê gớm khi dựng lên một chiếc mỏ neo kỳ vĩ từ lăng Kinh Dương Vương bé nhỏ:
 

  
Triệu triệu ngôi nhà trồi lên mặt đất này neo đậu lên Lăng bằng sợi dây vô hình của gió”
 (Trước lăng Kinh Dương Vương).
 
  
Viết về mẹ, Trịnh Văn có hình tượng khác lạ mà sâu sắc:
 
  
Mẹ chỉ là cát đen
    Không thể là cát vàng cát trắng                
                            
(Mẹ)
   
Trịnh Văn sống hết mình cho thơ, nhưng lao động và lao động nghệ thuật ở Trịnh Văn là vô cùng vất vả như anh đã nhiều lần viết:
    Những giọt mồ hôi rơi xuống cung đường    Vừa đủ mực cho anh làm bài thơ nhỏ”                                            
(Nguyễn Ngọc Ly).
  
 
Hay:
    Ngày vắt kiệt mồ hôi cho xứ sở    Đêm phơi mình trên ngọn giáo thi ca”.                
                        
    
(Làng).
  
 
Cuối năm ất Dậu vừa qua, Gà Vàng sắp im tiếng gáy cũng là lúc Trịnh Văn cưỡi Gà Vàng ra đi mãi mãi. Vậy nên tập thơ “Trước lăng Kinh Dương Vương” là tập thơ duy nhất của anh. Nhưng sáng tạo nghệ thuật không phải là phép tính, không phải là số đo, chỉ một tập thơ thôi cũng đủ dựng lên một tác giả rõ hình rõ nét. Trịnh Văn thổi vào thơ sự tươi mới táo bạo và hiện tượng Trịnh Văn trong nền thơ nói chung như một ngôi sao băng, vụt lóe sáng cũng đủ làm người ta cảm nhận thấy ánh sáng của nó.
                                              PHẠM THUẬN THÀNH  
Tự giới thiệu
My picture!
Phạm Thuận Thành

( Tên thật: Phạm Văn Thành)

Sinh ngày 23.5.1962
QUÊ: THƯỜNG VŨ, AN BÌNH, THUÂN THÀNH, BẮC NINH
Tham gia Hội:
* Hội viên Hội Văn học- Nghệ thuật Bắc Ninh
* Hội viên Hội Ngôn ngữ học Việt Nam
Liên lạc:

ĐT: 024.13.782355
D.Đ: 01685300803
mail: anbinhthanh@gmail.com
TRANG CHỦ:
http://phamthanh.vnweblogs.com

TÁC PHẨM XUẤT BẢN
1- NƯỚC MẮT MIỀN TUYẾT TRẮNG ( Tiểu thuyết)
2 - MAI GƯƠM SẮC BÚT(Tiểu thuyết)
3- CỔ TRAI XUẤT ĐẾ ( Tiểu thuyết)
4- CỎ HOANG ( Tiểu thuyết)
5- NƯỚC MẮT SÔNG TƯƠNG (Tiểu thuyết)
6- CHUYỆN TÌNH XỨ TUYẾT ( Tập truyện ngắn)
7- ĐẢO MÊ( Tập truyện ngắn)
8- ĐÊM CUỐI Ở CÔN SƠN ( Tập truyện ngắn)
9- TẮM AO ( Tập truyện ngắn)
10- SỢI TƠ HỒNG ( Tập truyện ngắn)
11- ĐẤT VÀ NGƯỜI SIÊU LOẠI( Khảo cứu phong tục)
12- LÀNG NGO ( Khảo cứu phong tục)
13- KỂ CHUYỆN QUÊ HƯƠNG NHÀ LÝ( Khảo cứu phong tục)
14-TÀI HÙNG BIỆN CỦA NGƯỜI XƯA
15- DANH NHÂN, DANH THẮNG XỨ BẮC
16- NGƯỜI KINH BẮC ĐỐI ĐÁP GIỎI
17- CHUYỆN KỂ Ở ĐỀN ĐÔ
18- HUYỀN TÍCH CHÙA BÚT THÁP
19- ĐI VỀ HAI CHIỀU THỜI GIAN
20- CẬU BÉ MỒ CÔI
21- TIẾNG CỒNG TRONG XÓ BẾP( Truyện vừa)
22- NGƯỜI TỪ GIỚI TUYẾN TRỞ VỀ ( TIỂU THUYẾT)
23- NGÀY NGHỈ CUỐI TUẦN ( NXB CAND 2010)
24- HAI BỜ SÔNG ĐUÓNG( NXBQĐND 2010)

Lịch
« February 2012 »
Su Mo Tu We Th Fr Sa
      1 2 3 4
5 6 7 8 9 10 11
12 13 14 15 16 17 18
19 20 21 22 23 24 25
26 27 28 29      
tìm kiếm
bài gần đây...
Các góp ý gần đây
categories
lưu trữ
liên kết cá nhân
Trang chính
Xuất bản tin
Trạng thái của blog
  • Tổng số bài viết: 75
  • Tổng số góp ý: 38
  • Tổng số trackbacks: 0
  • Tổng số lượt xem bài: 6.017